Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
4 bài trả lời: 4 bản dịch

Đăng bởi hongha83 vào 27/01/2010 02:10, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi tôn tiền tử vào 05/02/2015 12:12

飛仙閣

土門山行窄,
微徑緣秋毫。
棧雲闌干峻,
梯石結構牢。
萬壑欹疏林,
積陰帶奔濤。
寒日外澹泊,
長風中怒號。
歇鞍在地底,
始覺所歷高。
往來雜坐臥,
人馬同疲勞。
浮生有定分,
飢飽豈可逃。
嘆息謂妻子,
我何隨汝曹。

 

Phi Tiên các

Thổ Môn sơn hành trách,
Vi kính duyên thu hào.
Sạn vân lan can tuấn,
Thê thạch kết cấu lao.
Vạn hác y sơ lâm,
Tích âm đới bôn đào.
Hàn nhật ngoại đạm bạc,
Trường phong trung nộ hào.
Yết yên tại địa để,
Thuỷ giác sở lịch cao.
Vãng lai tạp toạ ngoạ,
Nhân mã đồng bì lao.
Phù sinh hữu định phận,
Cơ bão khởi khả đào.
Thán tức vị thê tử,
Ngã hà tuỳ nhữ tào.

 

Dịch nghĩa

Đường núi vùng Thổ Môn rất chật,
Lối đi nhỏ dăng mắc như tơ mùa thu.
Cầu khỉ tay vịn cao tít,
Thang đá mệt lắm mới leo nổi.
Ngàn khe nơi rừng thưa,
Hơi nước chứa chất nơi đầu ngọn sóng.
Mặt trời lạnh mờ nhạt bên ngoài,
Gió lớn gào thét bên trong.
Ngựa nghỉ nơi đáy đất,
Lúc này mới rõ là mình đã leo cao đến thế!
Qua lại hết nằm lại ngồi,
Cả người lẫn ngựa đều mệt.
Cuộc sống trôi nổi này đều có số,
Đói no liệu có tránh được không?
Than phiền nói cùng vợ, con:
Sao ta lại phải theo bọn bay!


(Năm 759)

Gác Phi Tiên thuộc Hưng Châu, nay là Lược Dương, Thiểm Tây.

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nhượng Tống

Ải qua đường núi hẹp không
Lối đi nhỏ tựa chiếc lông ngang trời
Cầu mây, tay vịn chơi vơi
Thang mây, bậc đá xếp coi vững bền
Rừng thưa muôn suối chảy bên
Sóng xô dồn dập hơi lên mịt mù
Trong thì dông tố gào to
Ngoài thì ánh nắng chiều thu lờ mờ
Nghỉ yên chân núi bấy giờ
Trông lên mới biết lối vừa đi cao
Người người ngựa ngựa mệt nhao
Nằm ngồi lẫn lộn nhìn vào chán chưa
Long đong trong kiếp sống thừa
Đói no là số bây giờ kêu ai
Ngắm con ngắm vợ thở dài
"Cớ sao ta cứ theo hoài chúng bay?"


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Thổ Môn đường núi len,
Lối hẹp như tơ sợi.
Cầu khỉ tay vịn cao,
Bậc đá cao vòi vọi.
Rừng thưa có ngàn hang,
Mịt mù trăm sóng trỗi.
Bên ngoài nhạt ánh trời,
Ở trong gió lốc thổi.
Dưới đất ngựa nghỉ yên,
Nhìn lên thấy chới với.
Người ngựa đều mệt nhoài,
Nằm ngồi với đi lại.
Cuộc sống vốn long đong,
Đói no liệu tránh nổi?
Đâm cáu nạt vợ con:
Sao ta theo bay mãi.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Đường non rất chật Thổ Môn,
Lối đi dăng mắc nhỏ lòn như tơ.
Vịn cao cầu khỉ tít hờ,
Leo lên bậc đá mệt khờ tới nơi .
Rừng thưa khe chốn ngàn khơi,
Nước hơi chứa chất đầu nơi sóng triều.
Mặt trời mờ lạnh cô liêu,
Gió gào thét lớn bên lều tranh xiêu.
Ngựa ngơi nghỉ đất ông tiều,
Lúc này mới rõ mình liều leo cao!
Hết nằm lại đến ngồi qua,
Cả người lẫn ngựa đều ra mệt nhoài.
Cuộc đời có số trời bày,
Đói no liệu có tránh hoài được không?
Than phiền nói cùng vợ, con:
Sao ta lại phải theo mòn bọn bay!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Đường núi vùng Thổ Môn rất chật
Lối nhỏ thu dăng mắc như tơ
Cầu mây tay vịn chơ vơ
Bậc thang bằng đá mệt phờ khi leo
Nơi rừng thưa âm reo ngàn suối
Tích luỹ nơi âm đới sóng xô
Bên ngoài trời lạnh lờ mờ
Bên trong gió lớn thét hô vang trời
Ngựa nghỉ ngơi ở nơi đáy đất
Lúc này mình mới biết cao rồi
Vào ra kẻ nằm người ngồi
Cả người lẫn ngựa mệt nhoài như nhau
Sống xô bồ này đều có số
Đói hay no tránh có được không?
Than phiền với vợ con cùng
Sao ta lại phải phục tùng bọn bay!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời