Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
5 bài trả lời: 5 bản dịch
Đăng bởi Vanachi vào 26/01/2009 03:56

留花門

北門天驕子,
飽肉氣勇決。
高秋馬肥健,
挾矢射漢月。
自古以為患,
詩人厭薄伐。
修德使其來,
羈縻固不絕。
胡為傾國至,
出入暗金闕。
中原有驅除,
隱忍用此物。
公主歌黃鵠,
君王指白日。
連雲屯左輔,
百里見積雪。
長戟鳥休飛,
哀笳曙幽咽。
田家最恐懼,
麥倒桑枝折。
沙苑臨清渭,
泉香草豐潔。
渡河不用船,
千騎常撇烈。
胡塵踰太行,
雜種抵京室。
花門既須留,
原野轉蕭瑟。

 

Lưu Hoa Môn

Bắc môn thiên kiêu tử,
Bão nhục khí dũng quyết.
Cao thu mã phì kiện,
Hiệp thi xạ Hán nguyệt.
Tự cổ dĩ vi hoạn,
Thi nhân yếm bạc phạt.
Tu đức sử kỳ lai,
Ky my cố bất tuyệt.
Hồ vi khuynh quốc chí,
Xuất nhập ám kim khuyết.
Trung Nguyên hữu khu trừ,
Ẩn nhẫn dụng thử vật.
Công chúa ca hoàng hộc,
Quân vương chỉ bạch nhật.
Liên vân truân tả phụ,
Bách lý kiến tích tuyết.
Trường kích điểu hưu phi,
Ai già thự u yết.
Điền gia tối khủng cụ,
Mạch đảo tang chi chiết.
Sa Uyển lâm Thanh Vị,
Tuyền hương thảo phong khiết.
Độ hà bất dụng thuyền,
Thiên kỵ thường phiết liệt.
Hồ trần du Thái Hàng,
Tạp chủng để kinh thất.
Hoa Môn ký tu lưu,
Nguyên dã chuyển tiêu sắt.

 

Dịch nghĩa

Người Hoa Môn đứa con trời đánh đó,
Là dân ăn thịt, tính tình ngược ngang.
Trời thu cao, ngựa béo mạnh,
Lắp tên bắn trăng nhà Hán.
Từ xưa đến nay vẫn thường gây hại,
Chuyện này đã từng được ghi chép trong thơ văn.
Lấy đức mà đối đãi với họ,
Thì đời đời sẽ giữ được mối giao hảo.
Tại sao lại bỏ cái chí nghiêng nước,
Để cho chúng ra vào nơi cửa vàng.
Vùng trung nguyên vì có loạn An Lộc Sơn,
Nên mới phải dùng đến người Hoa Môn.
Một công chúa đã hát bài hoàng hộc,
Vua đã từng chỉ mặt trời mà thề.
Nơi quân Hồi Hột mây trời vần vũ bay,
Tuyết đóng cả hàng ngàn dặm.
Dáo dài ngăn cản cánh chim bay,
Tiếng khèn nghe thật ai oán.
Nông dân thấy thế rất sợ hãi,
Lúa bung gốc, cành dâu gãy.
Nơi Sa Uyển, rồi sông Thanh, Vị,
Nơi cỏ thơm gió mát.
Chúng qua sông không dùng đến thuyền bè,
Lũ con trời ngang ngược như thế đó.
Bọn giặc làm tung bụi cho đến cả dãy núi Thái Hàng,
Giống quê mùa mà lên làm loạn thành thị.
Đã giữ người Hoa Môn lại,
Đồng bằng đến tan nát thôi.


Lời tự: "Cam Châu đông bắc thiên dư lý hữu Cư Diên hải. Hựu bắc tam bách lý, hữu Hoa Môn sơn bảo. Hựu đông bắc thiên lý, chí Hồi Hột nha trướng. Túc Tông hoàn tây kinh, diệp hộ từ quy. Tấu viết Hồi Hột chiến binh lưu tại Sa Uyển, kim quy Linh Hạ thủ mã, cánh vi bệ hạ thu Phạm Dương dư nghiệt. 甘州東北千餘里有居延海。又北三百里有花門山堡。又東北千里至回紇牙帳。肅宗還西京,葉護辭歸。奏曰回紇戰兵留在沙苑,今歸靈夏取馬,更為陛下收范陽餘孽 (Hơn ngàn dặm về phía đông bắc Cam Châu có biển Cư Diên. Lại phía bắc ba trăm dặm có thành Hoa Môn sơn. Lại ở phía đông bắc ngàn dặm, tới trại quân Hồi Hột. Túc Tông trở về kinh đô Trường An, diệp hộ từ chối không chịu về nước. Tâu rằng lính Hồi Hột lưu lại Sa Uyển, nay về Linh Hạ canh ngựa, đặng giúp bệ hạ dẹp tàn dư bọn giặc ở Phạm Dương.)

Bài này làm năm 759 sau khi Đỗ Phủ từ chức Tư công tham quân Hoa Châu, đem gia quyến lên miền tây bắc đến Tần Châu (Cam Túc). Hoa Môn chỉ quân Hồi Hột (dân tộc Duy Ngô Nhĩ ngày nay). Theo truyện Hung Nô trong Hán thư, người Hồ là con cưng của trời, ý nói cương ngạnh, kiêu căng. Khi An Lộc Sơn chiếm Trường An, Túc Tông bèn xin quân Hồi Hột viện trợ và ước định nếu thu phục được hai kinh đô thì đất đai, nhân dân sẽ thuộc sở hữu nhà Đường, còn vàng bạc, lụa là, phụ nữ thì để cho quân Hồi Hột. Quân Hồi Hột chiếm lại được Lạc Dương, Túc Tông đáp công của họ đem con gái mình là Ninh Quốc công chúa gả cho Hồi Hột cầu thân. Quân Hồi Hột vẫn ở lại kinh đô, chiếm đóng nhiều nơi trong nước, phá hoại tài sản nhân dân. Tác giả viết bài này để phản đối chính sách ngoại giao của triều đình, đề là "Giữ Hoa Môn" nhưng chính lại muốn nói không thể giữ Hoa Môn lại được.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (5 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Hoa Môn con trời cưng,
Ăn thịt khí hung hăng.
Giữa thu ngựa béo khoẻ,
Cắp tên xông bắn trăng.
Mối hoạn từ xưa ấy,
Đánh dẹp thơ còn vang.
Kết hoà xui nó đến,
Khó dứt mối dây ràng.
Sao để tràn cả nước,
Vào ra nghịt cửa vàng.
Trung Nguyên còn có loạn,
Buộc lòng mượn chúng sang.
Nhà vua chỉ trời thệ,
Công chúa ca hộc vàng.
Liền mây đồn đóng dọc,
Trăm dặm mờ tuyết dăng.
Giáo dài chim dứt lối,
Kèn sáng nghe buồn thương.
Nhà nông rất sợ hãi:
Lúa phá, dâu chặt càn.
Nơi nước trong cát trắng,
Vùng cỏ tốt suối hương.
Qua sông chẳng cần thuyền,
Ngàn ngựa thường vượt băng.
Bụi Hồ mờ non Thái,
Tạp chung hãm Lạc Dương.
Hoa Môn nên giữ lại,
Đồng nội xơ xác dần.


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, Hoàng Trung Thông, NXB Văn học, 1962
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của mailang

Hoa Môn, quân chúa ngạo,
Ăn thịt, tính hay cương.
Trăng Hán lắp tên bắn,
Đến thu ngựa mập cường.
Từ xưa luôn nhiễu hại,
Chuyện chép trong văn chương.
Nên lấy đức thu chúng,
Keo sơn hoài chẳng buông.
Vì sao nhục chí nước,
Cửa khuyết chúng đi thường.
Trong nước có binh loạn,
Lễ dâng, nhịn lót đường.
Hộc vàng, công chúa hát,
Vua thệ trước vầng dương.
Mây tụ về vần vũ,
Tuyết băng trăm dặm trường.
Giáo dài chim gãy cánh,
Khèn thổi lắm bi thương.
Bỡi thế nhà nông sợ,
Gãy dâu, trốc ruộng nương.
Từ Thanh, vị, đại mạc,
Gió mát cỏ đưa hương.
Qua bến chẳng cần sõng,
Con trời thật dở ương.
Thái Hàng rợ nổi bụi,
Dân tạp loạn kinh phường.
Nên giữ Hoa Môn lại,
Đồng bằng sẽ...thảm thương.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Anh Nguyên

Hoa Môn kiêu ngạo, con trời,
Là dân ăn thịt, tính thời ngược ngang.
Trời thu cao, ngựa béo căng,
Lắp tên, trăng Hán, hung hăng bắn hoài.
Từ xưa làm hại dài dài,
Thi nhân ghi chép chẳng ai ưa gì.
Lấy nhân đức xử khó chi,
Sợi dây ràng buộc chẳng khi nào rời.
Tại sao mỹ kế dùng rồi?
Vào ra, cung cấm là nơi hẹn hò.
Trung nguyên, trừ loạn, việc to,
Nên đành nín nhịn để cho chúng vào.
Hộc vàng, công chúa ước ao,
Nhà vua chỉ mặt trời cao mà thề.
Mây trời vần vũ nặng nề,
Cả trăm dặm tuyết tràn trề trắng phau.
Giáo dài, chim hết bay mau,
Tù và eo óc, bắt đầu rạng đông.
Nhà nông sợ hãi vô cùng,
Lúa nghiêng, dâu gẫy khắp vùng còn đâu.
Sa Uyển, Thanh Vị, dòng sâu,
Suối trong, gió nhẹ, cỏ mầu xanh tươi.
Qua sông, thuyền bỏ, lội người,
Con trời ngang ngược, đánh thời hăng say.
Thái Hàng, bụi giặc Hồ bay,
Quê mùa, hỗn tạp, hôm nay vào thành.
Hoa Môn, hãy giữ lại nhanh,
Cánh đồng quê đã vắng tanh lúc này...

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Hoa Môn, lũ trời đánh,
Ăn thịt, tính tàn hung.
Mùa thu, cưỡi ngựa béo,
Bắn trăng, nạp tên cung.
Từ xưa vẫn gây rối,
Nhắc chuyện, thơ đã từng.
Lấy đức đối đãi nó,
Giao hảo đời buộc ràng.
Sao lại chịu xuống nước,
Cho chúng tới cửa vàng.
Nước nhà vì có chuyện,
Đành lòng đem nó sang.
Ca hộc vàng, công chúa,
Thề cùng trời, quân vương.
Đồn quân đóng liền khít,
Trăm dặm phủ tuyết sương.
Giáo dài, chim nghẽn lối,
Khèn buồn, tiếng oang oang.
Nhà nông quá sợ hãi,
Dâu gãy, lúa đổ hàng.
Sa Uyển tới Thanh, Vị,
Gió mát cỏ nức hương.
Con trời cưng lộng quá,
Không thuyền, vẫn quá giang.
Giống mọi dạo phường phố,
Bụi Hồ mờ Thái Hàng.
Hoa Môn được giữ lại,
Hiu hắt chốn đồng hoang.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Hoa Môn bọn con trời kiêu ngạo
Thịt thay cơm, tiết tháo can trường
Trời thu rét, ngựa béo tròn
Lắp tên cung bắn chơi vầng Hán trăng
Từ xưa chúng hung hăng gây hoạn
Thi nhân ta ngán cảnh giết nhau
Nên dùng đức độ làm đầu
Tạo dây ràng buộc, chúng đâu dám càn
Vì sao chúng đến làm nghiêng nước
Ra vào làm u uất kinh đô?
Trung nguyên có loạn nên nhờ
Bọn này giúp sức, làm ngơ cho rồi
Công chúa mơ làm loài hoàng hộc
Chỉ mặt trời vua quyết gả nàng
Quân Hồ dựng trại hàng hàng
Trông như tuyết phủ cả ngàn dặm băng
Giáo dài chống chim không dám vượt
Tiếng kèn Hồ não nuột ban mai
Nông dân chết khiếp chạy dài
Lúa bông gục ngả, dâu đay uá vàng
Quân Hồ đóng trại vùng Sa Uyển
Cỏ hoa nhiều, thanh khiết đào nguyên
Qua sông chúng chẳng cần thuyền
Cả ngàn người ngựa thường xuyên lội hoài
Khi Thái Hàng ngựa Hồ vượt được
Bọn rợ này xúc phạm hoàng cung
Hoa Môn nếu giữ lại cùng
E rằng đất nước tiêu tùng thảm thê.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời