Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt
Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
3 bài trả lời: 3 bản dịch

Đăng bởi hongha83 vào 07/06/2017 16:36

雄王

王侯將相總稱雄,
十八傳來位號同。
歳歷千餘支派遠,
二徵還有祖威風。

 

Hùng Vương

Vương hầu tướng tướng tổng xưng Hùng,
Thập bát truyền lai vị hiệu đồng.
Tuế lịch thiên dư chi phái viễn,
Nhị Trưng hoàn hữu tổ uy phong.

 

Dịch nghĩa

Vương hầu, quan văn, quan võ đều xưng hiệu là Hùng
Truyền nối qua mười tám đời đều lấy chung một hiệu vua
Kéo dài suốt hơn nghìn năm, chi phái dòng dõi thật lâu xa
Cho đến thời Hai Bà Trưng vẫn còn sự oai phong của tổ tiên


Theo Ngoại kỷ: Vua khuyết tên huý, là con của Lạc Long Quân, lên nối ngôi tự xưng là Hùng Vương, dựng nước lấy quốc hiệu là Văn Lang, đặt quan võ là Hùng tướng, quan văn là Hùng hầu, chế độ cha truyền cho con gọi là phụ đạo, truyền nối nhau được mười tám đời thì bị An Dương Vương thôn tính. Nay xét: từ thời Đường đến thời cuối đời nhà Chu trải qua thời gian rất dài mà nói là chỉ truyền nối qua mười tám đời vua, có lẽ thời trước vì chưa có quốc sử nên mới lưu truyền sai lầm như thế.

Nguồn: Thoát Hiên vịnh sử thi tập, Đặng Minh Khiêm, NXB Văn học, 2016

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Bùi Duy Tân

Vương hầu văn võ thảy xưng Hùng,
Mười tám đời vua miếu hiệu chung.
Nghìn năm chi phái lưu còn thịnh,
Hai Bà Trưng vẫn tỏ oai phong.

Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Vương hầu, văn, võ đều gọi Hùng,
Mười tám đời vua lấy hiệu chung.
Nghìn năm, chi phái còn lưu mãi.
Oai dũng mãi đến Hai Bà Trưng.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Vương hầu văn võ thảy xưng Hùng
Mười tám đời vua một hiệu chung
Hơn cả ngàn năm dòng dõi thịnh
Oai phong tận đến thuở Bà Trưng

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời