Phục dĩ:
Góc trời đỏ rực, tiểu nhân đắc chí chi thời;
Mặt đất sấm vang, đại đổ phục Chu chi nhật.
Trời đành có mắt;
Người hết vui lòng.

Thân sĩ chúng tôi, trộm nghĩ rằng:
Cướp của giết người, kẻ cắp tất bà già chi gặp;
Mũi tên hòn đạn, thiên oai duy bạc mệnh chi tìm...
Huống rước thù mua oán chi đã lâu, lẽ không tha được;
Tức nướng chả băm viên chi rất thảm, tội chửa cân đâu.
Không biết ông nào;
Thương thay cụ lớn.

Cung duy Thái Bình tuần phủ Nguyễn đại nhân các hạ:
Làng văn vật;
Dòng thi thư.
Miệng lắp đồ le;
Đít xì dáng vại.
Đỗ cử nhân từ khoa Bính Tuất, chó ngáp phải ruồi;
Sang hậu bổ giữa tỉnh Thái Bình, chuột sa chĩnh gạo.
Đóng liền một chỗ;
Làm luôn mấy năm.
Cứ bờ xôi ruộng mật chi lợi quyền;
Thì xanh vỏ đỏ lòng chi chính sách.
Đỏ như vòng, đông như tiết, nhờ máu mạnh dĩ đưa đi;
Cơm là gạo, áo là tiền, đầy túi tham nhi thắt lại.
Được thể dễ nói khoác, hết phủ huyện nhi bổ hồ;
Càng quen lèn cho đau, nhè thân hào nhi giở mặt.
Chỉ khéo liệu chiều che gió, Sứ muốn ăn cho ăn, muốn chơi cho chơi;
Xui nên há miệng mắc quai, Tuần bảo xôi ừ xôi, bảo thịt ừ thịt.
Tay óc trong bị;
Bụng dặt những gươm.
Ký đổi trắng nhi thay đen;
Thả tát cạn nhi bắt lấy.
Trước còn vơ vét, giăng cánh lưới dĩ ngang sông;
Sau lại dò la, bới chân lông nhi tìm vết.
Gần từ một tỉnh;
Xa đến các nơi.
Trong họ chẳng tha;
Ngoài làng cũng bắt.
Vi hạt dân chi hùm xám;
Vi quý quốc chi chó săn.

Sao chẳng nghĩ:
Vận nước loạn ly;
Tình dân oan khô?
Làm cho đến nỗi, chày khô vắt dĩ nước ra;
Chút chẳng thương tình, dầu đổ thêm chi lửa chảy.

Huống phục:
Tiền thừa gà mổ;
Ruộng thẳng cò bay.
Còn mong đến đâu;
Chẳng xin về nghỉ.
Con thì một đàn ngu ngốc, cậu Dương Hoà nãi chó săn gà chọi chi thượng lưu;
Nhà thì mang tiếng cao hoa, cụ Huyện hàm nãi da đá men mờ chi thạc vọng.
Sao không biết nghĩ;
Hễ tham thì thâm.
Nghi tạc đạn chi quăng vào, mình mua lấy chết;
Tức thành môn chi phục xuống, người hoá ra ma.
Thương đầy tớ chi bị lây;
Vào nhà thương nhi cứu khỏi.

Thân sĩ chúng tôi:
Trộm nghe người nói;
Ngồi nghĩ lẽ chung.
Chẳng chết chết thằng nào, cho đáng đời cho đáng kiếp;
Đã làm làm phải được, ấy mới gan ấy mới tài.
Thực thoả lòng người;
Để tạ thiên hạ.
Từ đó chợ tan buổi họp, đưa cửa trước rước cửa sau;
Rồi ra cửa đội nón đi, vào lỗ hà ra lỗ hổng.
Má phấn môi son chi Đào Bích, chưa kịp đôi hồi;
Nâng khăn sửa túi chi hầu non, lấy ai cai quản.
Hàm Tổng đốc được truy tặng thẳng, Thống sứ thương thay;
Vua Diêm vương có mật thám chưa, Quan tuần xuống đó.

Thân sĩ chúng tôi:
Bất thăng nguýt nguýt lườm lườm chi chí,
Cẩn trần biểu dĩ văn.


Nguyễn Duy Hàn người làng Hành Thiện, tỉnh Nam Định, ngày 13-4-1913 đương làm Tuần phủ Thái Bình ngồi trên xe kéo từ Toà sứ về dinh, bị đảng viên Quang Phục hội là Phạm Văn Tráng ném bom giết chết. Sau Tráng cùng nhiều đồng chí bị bắt ở biên giới Lạng Sơn khi trên đường trốn sang Trung Quốc, rồi bị tử hình bằng máy chém ở Hoả Lò.

Nguồn: Thái Bạch, Thi văn quốc cấm thời thuộc Pháp, NXB Khai Trí, 1968