陪王漢州留杜綿州泛房公西湖

舊相恩追後,
春池賞不稀。
闕庭分未到,
舟楫有光輝。
豉化蓴絲熟,
刀鳴鱠縷飛。
使君雙皂蓋,
灘淺正相依。

 

Bồi Vương Hán Châu lưu Đỗ Miên Châu phiếm Phòng công tây hồ

Cựu tướng ân truy hậu,
Xuân trì thưởng bất hi.
Khuyết đình phân vị đáo,
Chu tiếp hữu quang huy.
Thị hoá thuần ti thục,
Đao minh khoái lũ phi.
Sứ quân song tạo cái,
Than thiển chính tương y.

 

Dịch nghĩa

Viên tướng xưa còn để lại cái ơn,
Thưởng thức cái ao đẹp không phải là ít.
Của nhà chưa tới được vì ao chia cắt,
Nhưng thuyền bè có được cái vẻ sáng sủa.
Rau thuần luộc chín nhừ thành xột xệt,
Lát cá làm gỏi theo tiếng dao tung lên.
Hai tán che bằng cỏ nhuộm đen của sứ quân,
Cứ vẫn dựa che theo thác nước cạn.


(Năm 763)

Lời tự: “Phòng Quản thứ Hán Châu thì sở tạc” 房琯刺漢州時所鑿 (Phòng Quản khi làm tri Hán Châu cho đào).

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Tới giờ, ơn tướng còn,
Ao xuân thường coi luôn.
Nhà cửa xa chưa tới,
Thuyền bè chói sáng rờn.
Rau thuần luộc nát bét,
Lát gỏi theo dao tuôn.
Sứ quân hai lọng cỏ,
Thác cạn vẫn còn luồn.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Tướng cũ sau khi ơn đền đáp
Tại hồ xuân thưởng thức luôn luôn
Triều đình phân giải chưa xong
Thuyền bè có vẻ phong quang sáng ngời
Rau rút nhừ thơm hơi đậu thị
Gỏi cá làm ầm ĩ tiếng dao
Sứ quân hai cái lọng đen
Vẫn che dù thác nông toèn nước yên.

Chưa có đánh giá nào
Trả lời