Thi viện

Quên mật khẩu | Đăng ký

312 người đang online (4 thành viên)

 

» Tham gia Thi Viện trên facebook Tìm nhanh:      Góp ý



Đọc "Người đánh thức đất đai"

Xem danh sách bài viết (475 bài)



Tác giả: Từ Nguyên Tĩnh
Từ khoá: (Không có)
Đã được xem 632 lần
Đăng bởi Kim Diệu Hương vào 23/04/2008 23:22
Những ngày cuối năm Bính Tuất, bận bịu với báo tết, lại được tặng "Người đánh thức đất đai"- Trường ca của Mạnh Lê. Đọc tiểu thuyết và trường ca lúc này quả là "dũng cảm". Nhưng đây là trường ca Mạnh Lê viết về anh hùng Lê Văn Tam - Về mía đường Lam Sơn. Về ông Lê Lợi... Trường ca dày 160 trang in đẹp (19,5x20,5 Cm) do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành...

Trường ca... cái thể Piano trong thơ ca... không biết ai đã ví von như thế nhỉ. Cách đây không lâu người ta nói về trường ca: khó lắm...kỳ vĩ lắm... phải đầu tư nhiều lắm...Và cái tâm thật là "đồ sộ" mới cầm bút viết nổi? Thật là (bẻm mép - có mùi vị bịp bợm)... Tất nhiên, thời "Chim Chrao" trường ca mới chỉ đếm trên đầu ngón tay...kháng chiến chống Mỹ cũng thật ít và hiếm thể loại "Pianô" này. Thế mà thần đồng Trần Đăng Khoa đã cho ra đời hai trường ca: Khúc hát người anh hùng và Đi đánh thần hạn. Thật hay và xúc động!

Sau 1975 thì trường ca không còn khan hiếm nữa. Dấu chân qua trảng cỏ (Thanh Thảo), Đất nước hình tia chớp (Trần Mạnh Hảo), ở làng Phước Hậu (Trần Vũ Mai), Đường tới thành phố (Hữu Thỉnh), Sông Mê Kông bốn mặt (Anh Ngọc), Trường ca sư đoàn (Nguyễn Đức Mậu), một loạt những trường ca của Thu Bồn: Bài ca chim ChơRao, Ba Zan khát.v.v...ở Xứ Thanh, trường ca trước nay hầu như vắng bóng. Sự xuất hiện của Khúc hát bắt đầu từ nguồn nước của Văn Đắc... Sau đó thì ta thấy có trường ca Sơn Tỷ (Mai Ngọc Thanh), Hàm Rồng (Từ Nguyên Tĩnh)... Xu hướng đầu tư của Hội nhà văn và các Hội địa phương "ưu tiên "cho tiểu thuyết và Trường ca. ở Xứ Thanh thấy xuất hiện thêm một số: Lửa Hàm Rồng (Mạnh Lê), Thành Tây Đô (Văn Đắc) Rẻo đất đen, Sông Bưởi (Bùi Kim Quy), Sông Mã (Huy Trụ).v.v... viết về công nghiệp hoá và sự nghiệp đổi mới như Mía đường Lam Sơn, Xi măng Bỉm Sơn, Nghi Sơn thật là quý hiếm và độc chiêu. Bởi các điển hình tiên tiến "sớm nắng chiều mưa", anh hùng đấy nhưng lại dễ dàng sụp đổ. Nợ nần và ăn điêu nói dối, anh hùng "rơm".

Tình trạng đó không xảy ra với Xi măng Bỉm Sơn và Công ty đường Lam Sơn. Bởi nó có bước đi vững chắc, được thử thách và thật sự đem lại lợi ích cho vùng, miền và người lao động. Trên đất nước ta có biết bao nhà máy đường sụp đổ, chuyển đi xây lại mà chỉ còn là sắt vụn, và lau lách.

Trên vùng đồi Lam Sơn, sừng sững nhà máy đường và màu xanh reo vui của mía... Hàng trăm bài báo đã viết về mía đường Lam Sơn, về anh hùng Lê Văn Tam, đã tuyển thành sách, thành nhạc, đã sân khấu hoá và phim ảnh rồi!

Mạnh Lê thật dũng cảm khi lao vào những đề tài khó. Anh đã hoá thân vào tác phẩm này!

"Nơi này ngày xưa rậm rì cỏ xanh
Đêm hoang chập chờn bóng cọp"

Trường ca "Người đánh thức đất đai" là một cuộc trò chuyện.

"Tôi hỏi anh: "Sao gọi khoảnh đồi kia là Mã Cọp?""

Tác giả và nhân vật chính: anh hùng Lê Văn Tam được tái hiện bằng thơ hẳn hoi... cái lịch sử và vùng đồi hiển hiện.

Từ đỉnh Pù Rinh nhìn xuống Chu giang rất hoành tráng. Thật ra thì tác giả đang huyền thoại hoá cái "hiện thực" này nhập vào cái huyền thoại của cuộc khởi nghĩa kia...Tác giả nhìn xéo, nhìn ngang...bay lên để mà xuống với mía đường.

Hạn hán, sông Mã sông Chu cạn nước và thiếu nước đến nỗi Cọp hiện về...Và Cọp chết mà hoá thân... Ta liên tưởng một cuốn tiểu thuyết nào đó có sự huyền thoại về mả Cọp- không sao, văn học là một sự kế thừa có sáng tạo mà...Và chắp với dòng đời của người anh hùng Lê Văn Tam:

"Anh đã đến vùng đồi và mía mọc
Hai mươi lăm năm cây mía sống theo người
Mía tiếp mía chập chùng xanh ngút mắt
Đất Lam Sơn biêng biếc khung trời"

Làm xong việc huyền thoại hoá, tác giả đưa ta về hiện thực:

"Tôi hỏi em: Đồi mía này của ai mà tốt vậy?
Đồi mía ông Tam! Anh không biết thật à?"

Chương mở đầu đã dẫn dắt người đọc một cách gọn nhẹ. Đã sử dụng một cách linh hoạt, phóng đại, khoa trương và cụ thể hiện thực. Đã "phong thánh" cho một con người "trần mắt thịt" để các chương sau hư cấu: Từ nỗi khổ đau truyền đời của người nông dân, thèm mía đường, thèm bát cháo đường đến khi vươn vai thành con người anh hùng. Ông Gióng thì "thần thoại hoá" bay về trời. Ông Tam là con người thật, phải đụng vào trí não, phải thức đêm dậy sớm, khổ sở với đất đai, lấy giống mía, học kiến thức của thế giới và trong nước để duy trì cái nhà máy mía đường- nền của trường ca.

"Khi tôi cất tiếng chào đời thì anh tuổi trăng tròn
Lời mẹ ru như đổi khác:
À ơi sông Mã quê ta nhiều ghềnh lắm thác
Đã là thuyền thì thuyền phải chắc
Đã là dao thì dao phải sắc
Đã là người phải chân cứng đã mềm".

Tôi thật thông cảm với tác giả khi phải "gồng lên" tìm cách mở cái khoá bí mật của nghệ thuật. Nếu không là sông Mã, sông Chu thì ở đâu? Đó là đất đứng của người anh hùng mà lại. Đá là hoa, đá là người...là người anh hùng chứ sao?

"Anh bảo mình gốc gác nông dân
Tôi bảo cha tôi là thợ đúc đồng"

Và tiếp:

"Mở mắt tuổi thơ đã nhìn thấy đất
Núi Đọ, núi Nưa dăng mắc chân trời"

Thơ chưa hay nhưng "dăng mắc" được đất và người quê mình... Nói được cái sâu lắng, trầm tích của thềm dòng sông cổ. Của đất mẹ mà sự liên kết: vùng đồi- vùng quê- cái thật: ngây thơ đã hoá thân và cái "biến ảo" "khoa trương" nhập lại:

"Tam đi chăn bò kiếm về cho cha
Chai rượu siêu mẹ bắc canh khuya"

Rồi:

"Thằng Tam ngày sau sẽ khá"

Và:

"Thằng Tam bỏng mía làng nước ơi!"

Chỉ nhà thơ, nhà văn mới có quyền hoá thân, gọi các siêu nhân, các nguyên thủ với cái cách thân thiện: cậu bé, nó như là "hiện thực vốn có".Cách đây vài trăm năm mà nay khi viết về thời thơ ấu của Lê Hoàn, Trịnh Sâm, Nguyễn Huệ, nhà văn đặt bút "cậu bé ấy" hoặc gọi tự nhiên mà người đời tưởng là "xéch mé":

"Mùi chuột đồng thấm vào da thịt Tam từ đó
Cái mùi tanh tưởi hơi bùn, mát thấu xương
Tam đi học trường xa không còn những đêm đông
Ngồi chở lửa
Chảo mật mía vàng hươm
Tam vớt bọt vào ống nứa
Cho bạn chăn trâu làng cùng ăn
Mùi mật mía thơm đêm".

Tác giả từ trường ca mở rộng biên độ ra với sự đời:

"Tôi không bận tâm vì sao thơ viết ngày càng nhiều
Những tập thơ như phoi đất nằm im lìm trên giá sách
Tôi không bận tâm vì sao thơ viết ra ngày càng ít người đọc
(Cuộc sống ngày thường bận bịu)
Hay thơ tôi viết cũ quá rồi về những người nông dân
Đất nước tưng bừng công nghiệp hoá"

Mười một chương của trường ca "Người đánh thức đất đai"- không thể nói là dài hay ngắn. Quả là Mạnh Lê trần ra để thể nghiệm mình. Là người đã thành công khi tìm được hơi thở của tiếng đá tiếng đồng, đã lấy được cái ấm trầm của thổ âm sông. Lần này đến với một vùng" đất đai - cây cỏ - con người- huyền thoại" nhưng ở những tập thơ trước Mạnh Lê tiếp cận với "âm điệu của trống đồng"- của thổ âm sông- của tiếng đồng, tiếng đá - của cái mơn man lao xao của tre xanh, làng cò - của "ăn cơm bằng đèn, hát dưới trăng"... của những nhân vật Sông quê - cha mẹ - chị và ra đến truyền thuyết huyền thoại Hàm Rồng. Không nói là viết về cái xa xôi "mờ mờ nhân ảnh" là dễ. Người ta đã cày bừa, gặt hái rồi nên chỉ còn hay dở. Viết về con người thật, về công nghiệp hoá quả là đề tài khó, hóc búa. Không ít những bài thơ dài, tập ký... chỉ dừng ở người thật việc thật và bị quên lãng.

Trường ca "Người đánh thức đất đai" của Mạnh Lê lần này có vẻ là "khó đọc hơn" bởi anh đã vận dụng nhiều thủ pháp: đồng hiện, khoa trương phóng đại, ẩn dụ. Anh hoá thân vào nhân vật - mà nhân vật đang hiện diện. Anh hoá thân vào nhân vật mà ít, thể hiện thể thơ truyền thống. Khi thì sử dụng thể thơ năm chữ để kể. Khi kéo dài câu thơ ra mang đậm chất "văn xuôi". Sự suy ngẫm không còn đơn điệu, cái "hoành" mà thiếu cái "tráng" như ý của ai đó có lần đề cập đến Mạnh Lê. ở đây, Mạnh Lê có dịp để suy ngẫm.

Về quan niệm thơ, Mạnh Lê bộc lộ:

"Tam có thể tính giá một tấm bằng đại học
Bằng bao tấn thóc, bao giọt mồ hôi
Tôi có thể tính được giá một tiếng thở dài
Nỗi trầm uất cuối cùng khi đời người nhắm mắt xuôi tay
về với đất
Đó là giá của thơ, giá những con đường rợp xanh ký ức"
(Chương II)

Ngẫm ngợi Từ Ai đến tôi, Chiều riêng, rất khác với ngẫm ngợi của trường ca "Người đánh thức đất đai"

"Ông bà đặt tôi trong tiếng đá
Cô bác đặt tôi trong tiếng đồng
Cha mẹ đặt tôi trong tiếng đất
Tôi đặt tôi trong thổ âm sông
(Tôi và ai nữa)

Đến mạch suy ngẫm của trường ca:

Đêm của một đời người
Đủ thời gian cho hạt cây bật mầm lên khỏi đất"
(Chương IV)

Đất đai chỉ nói với cây xanh bằng lời của cây xanh
(Chương V)

Ta thấy dường như Mạnh Lê đã đi vào cái triết lý - tiềm ẩn rất khó khăn để thơ tạo sự trần trụi mang dáng dấp của danh ngôn,danh lý, vượt lên trên cái thế tục bề bề.

Ta bắt gặp một sự xúc động chân thành vốn có - cái mạnh của Mạnh Lê - Mà rất triết lý - Thiện và ác - Sao vậy khi làm cho cuộc sống sinh thành:

"Thiện với ác là gì khi mỗi bình minh
Vung cán cuốc ta lật tung thớ đất
Đất ấm quá
Hình như là đất khóc
Đất âm thầm khóc suốt đêm qua"

Tác giả không ngại đi ra "trường ca" để bộc lộ mình:

"Thơ tôi viết cứ nặng mùi đất ải
Mùi mồ hôi nhẫn nại thấm vào đêm"
(Chương VI)

Những câu thơ tả bằng cảm - thật khó viết:

"Gương mặt những người con của vùng đồi công nghiệp hoá
Cứ lành như đất nâu"
(Chương X)

Ta bắt gặp giọng thơ truyền thống:

"Người đi để lại bóng mình
Thơ đi để lại cái tình bền lâu"

Hay:

"Người đi tìm đất dựng nhà
Gánh thời gian nặng vắt qua vai mình"
(Chương VIII)

Mạnh Lê muốn đưa vào trường ca cả miền quê sông Mã sông Chu thật thân thiện:

"Bao mùa lũ hạn qua đây
Ngày đông mới biết sông gầy sông ơi"

Tác giả nói về đất, nhưng lại gặp sự thao thức của chính mình:

"Không chang chói chẳng lung linh
Tự mình mình tự thức mình đất ơi!"

Mạnh Lê viết trường ca này có thế mạnh của một giọng điệu thơ đã định hình nhưng lại gặp cái khó là phải đổi mới ngay ở những câu chữ trên nền giọng thơ đã định hình ấy. Độ chín của xúc cảm chưa đủ để anh có được câu thơ hay. Cái chính là phải đi tìm và cái khát vọng đi tìm ấy được thể hiện ở đoạn kết của bản trường ca:

... "Tôi muốn được cùng anh đi về phía ấy. Phía những cánh rừng hoang, những phận người nghèo. Sông âm u, mòn mỏi trong góc tối để đánh thức những hạt phù sa còn chết lặng trong đất, thúc bật lên màu diệp lục của cây và đốt lên ngọn lửa yêu thương cháy bỏng của con người"...

T.N.T

(*) Bài viết này đã đăng website Văn nghệ Xứ Thanh

Theo địa chỉ sau:

http://www.baothanhhoa.com.vn/xuthanh/viewdetail.php?newsid=73&style=10






RSS © 2004-2013 annonymous