Dùng font cỡ nhỏ Dùng font cỡ vừa Dùng font cỡ lớn
RSS feed Chia sẻ trên Facebook

Thục đạo nan - 蜀道難

Thơ » Trung Quốc » Thịnh Đường » Lý Bạch


    Facebook    Khác Thể thơ: Cổ phong (cổ thể), thời kỳ: Thịnh Đường
Đăng bởi Vanachi vào 24/12/2005 02:54
Đã sửa 1 lần, lần sửa cuối bởi Vanachi vào 09/02/2006 05:35
Đã xem 3553 lượt, có 2 trả lời (2 bản dịch)

蜀道難

Thục đạo nan

Đường Thục khó (Người dịch: Trần Trọng San)

噫吁戲!
危乎高哉!
蜀道之難難於上青天!
蠶叢及魚鳧,
開國何茫然。
爾來四萬八千歲,
不與秦塞通人煙。
西當太白有鳥道,
可以橫絕峨眉巔。
地崩山摧壯士死,
然後天梯石棧方鉤連。
上有六龍回日之高標,
下有衝波逆折之回川。
黃鶴之飛尚不得過,
猿猱欲度愁攀援。
青泥何盤盤,
百步九折縈巖巒。
捫參歷井仰脅息,
以手撫膺坐長歎。
問君西遊何時還?
畏途巉巖不可攀。
但見悲鳥號古木,
雄飛雌從繞林間。
又聞子規啼夜月,
愁空山,
蜀道之難難於上青天,
使人聽此凋朱顏。
連峯去天不盈尺,
枯松倒掛倚絕壁。
飛湍瀑流爭喧豗,
砅厓轉石萬壑雷。
其險也如此,
嗟爾遠道之人,
胡為乎來哉!
劍閣崢嶸而崔嵬,
一夫當關,
萬夫莫開。
所守或匪親,
化為狼與豺。
朝避猛虎,
夕避長蛇。
磨牙吮血,
殺人如麻。
錦城雖云樂,
不如早還家。
蜀道之難難於上青天,
側身西望長咨嗟。

Y hu hy
Nguy hồ cao tai
Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên
Tàm Tùng cập Ngư Phù
Khai quốc hà mang nhiên
Nhĩ lai tứ vạn bát thiên tuế
Bất dữ Tần tái thông nhân yên
Tây đương Thái Bạch hữu điểu đạo
Khả dĩ hoành tuyệt Nga My điên
Địa băng sơn tồi tráng sĩ tử
Nhiên hậu thiên thê thạch sạn phương câu liên
Thượng hữu lục long hồi nhật chi cao tiêu
Hạ hữu xung ba nghịch chiết chi hồi xuyên
Hoàng hạc chi phi thượng bất đắc quá
Viên nhứu dục độ sầu phan viên
Thanh Nê hà bàn bàn
Bách bộ cửu chiết oanh nham loan
Môn Sâm lịch Tỉnh ngưỡng hiếp tức
Dĩ thủ phủ ưng toạ trường than
Vấn quân tây du hà thời hoàn
Úy đồ sàm nham bất khả phan
Đản kiến bi điểu hào cổ mộc
Hùng phi tòng thư nhiễu lâm gian
Hữu văn tử quy đề dạ nguyệt
Sầu Không san
Thục đạo chi nan nan ư thướng thanh thiên
Sử nhân thính thử điêu chu nhan
Liên phong khứ thiên bất doanh xích
Khô tùng đảo quái ỷ tuyệt bích
Phi suyền bộc lưu tranh huyên hôi
Phanh nhai chuyển thạch vạn hác lôi
Kỳ hiểm dã nhược thử
Ta nhĩ viễn đạo chi nhân
Hồ vi hồ lai tai
Kiếm Các tranh vanh nhi thôi ngôi
Nhất phu đang quan
Vạn phu mạc khai
Sở thủ hoặc phi thân
Hoá vi lang dữ sài
Triều tị mãnh hổ
Tịch tị trường xà
Ma nha doãn huyết
Sát nhân như ma
Cẩm thành tuy vân lạc
Bất như tảo hoàn gia
Thục đạo chi nan nan ư hướng thanh thiên
Trắc thân tây vọng trường tư ta

Ôi, chao ôi!
Nguy hề, cao thay!
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh.
Tàm Tùng và Ngư Phù,
Mở nước bao xa xôi!
Đến nay bốn vạn tám ngàn năm,
Mới cùng ải Tần liền khói người.
Phía tây núi Thái Bạch có đường chim,
Vắt ngang đến tận đỉnh Nga Mi,
Đất long, núi lở, tráng sĩ chết,
Rồi sau thang trời, lối đá mới nối liền.
Trên đỉnh có sáu rồng, lượn quanh vầng nhật;
Dưới có dòng sâu rẽ ngược, sóng cả đua chen.
Hạc vàng bay qua còn chẳng được;
Vượn khỉ toan vượt, buồn với vin.
Rặng Thanh Nê quanh co!
Trăm bước, chín vòng núi nhấp nhô.
Ngẩng trông Sâm Tỉnh, không dám thở,
Lấy tay vỗ bụng ngồi thở dài.
Hỏi bạn sang tây, bao giờ trở lại ?
Đường hiểm núi cao, khó lắm thay;
Chỉ thấy chim buồn gào cổ thụ,
Trống bay theo mái lượn rừng cây.
Lại nghe tiếng cuốc kêu trăng tối,
Buồn tênh, núi vắng người!
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh;
Khiến người nghe nói héo mặt son.
Núi liền cách trời chẳng đầy thước;
Thông khô vắt vẻo vách cao ngất.
Thác đổ dồn mau tiếng rộn ràng,
Vỗ bờ, tung đá, muôn khe vang.
Hiểm nghèo là như vậy,
Đường xa, thương cho ai,
Vì sao lại đến đây ?
Kiếm Các cheo leo cao ngất mây.
Một người giữ cửa quan,
Muôn người khôn mở ải.
Chẳng phải là người thân,
Biến thành ra sài lang.
Sớm lánh hổ dữ,
Tối tránh rắn dài;
Mài nanh, hút máu,
Giết người như gai.
Cẩm thành tuy vui thú,
Đâu bằng sớm về nhà.
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh;
Nghiêng trông sang tây, mãi thở than.

» Hiện dịch nghĩa


(Năm 732)
Thục: tên nước cũ thời Xuân Thu, nay là tỉnh Tứ Xuyên.


 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Bản dịch của Trần Trọng San

Vanachi

Con chim bạt gió lạc loài kêu thương

Vanachi

Đăng ký: 31/5/2004
Số bài: 24448

Ôi, chao ôi!
Nguy hề, cao thay!
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh.
Tàm Tùng và Ngư Phù,
Mở nước bao xa xôi!
Đến nay bốn vạn tám ngàn năm,
Mới cùng ải Tần liền khói người.
Phía tây núi Thái Bạch có đường chim,
Vắt ngang đến tận đỉnh Nga Mi,
Đất long, núi lở, tráng sĩ chết,
Rồi sau thang trời, lối đá mới nối liền.
Trên đỉnh có sáu rồng, lượn quanh vầng nhật;
Dưới có dòng sâu rẽ ngược, sóng cả đua chen.
Hạc vàng bay qua còn chẳng được;
Vượn khỉ toan vượt, buồn với vin.
Rặng Thanh Nê quanh co!
Trăm bước, chín vòng núi nhấp nhô.
Ngẩng trông Sâm Tỉnh, không dám thở,
Lấy tay vỗ bụng ngồi thở dài.
Hỏi bạn sang tây, bao giờ trở lại ?
Đường hiểm núi cao, khó lắm thay;
Chỉ thấy chim buồn gào cổ thụ,
Trống bay theo mái lượn rừng cây.
Lại nghe tiếng cuốc kêu trăng tối,
Buồn tênh, núi vắng người!
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh;
Khiến người nghe nói héo mặt son.
Núi liền cách trời chẳng đầy thước;
Thông khô vắt vẻo vách cao ngất.
Thác đổ dồn mau tiếng rộn ràng,
Vỗ bờ, tung đá, muôn khe vang.
Hiểm nghèo là như vậy,
Đường xa, thương cho ai,
Vì sao lại đến đây ?
Kiếm Các cheo leo cao ngất mây.
Một người giữ cửa quan,
Muôn người khôn mở ải.
Chẳng phải là người thân,
Biến thành ra sài lang.
Sớm lánh hổ dữ,
Tối tránh rắn dài;
Mài nanh, hút máu,
Giết người như gai.
Cẩm thành tuy vui thú,
Đâu bằng sớm về nhà.
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh;
Nghiêng trông sang tây, mãi thở than.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Có 1 người thích: Nguyễn Lãm Thắng

Bản dịch của Nguyễn Lãm Thắng

Nguyễn Lãm Thắng

Đăng ký: 18/10/2008
Số bài: 1398

Ôi! Ghê quá! Hiểm, cao là bấy
Thục, khó  đi hơn chạy lên  trời
Tàm, Ngư mở nước bao đời
Từ khi mờ mịt đất trời mang mang
Đã  bốn vạn tám ngàn năm đấy!
Khói bếp chưa  thông  ải đất Tần
Phía Tây,  Thái Bạch chắn ngang
Vượt Nga Mi chỉ bằng đường chim bay
Đất núi lở vùi thây tráng sĩ
Sau,  thang trời, cầu đá liền nhau
Trên là một ngọn núi cao
Sáu rồng uốn lượn cùng chầu vầng dương
Dưới, dòng suối cuộn cuồn, thác nhảy
Sóng dội  lên, nước chảy ngược dòng
Hạc vàng mỏi cánh, đừng hòng
Vượn sầu, khỉ tủi, khó lòng chuyền leo
Đèo Thanh Nê ngoòng ngoèo hiểm hóc
Trăm bước đi, ngoặt dốc chín lần
Chạm Sâm, đạp Tỉnh, ngại ngần
Tạm ngồi vỗ bụng thở than, mệt lừ
Anh sang Tây bao giờ trở lại?
Đường chon von, chỉ ngại trèo cao
Cây già, chim quạ thương sầu
Mái bay theo trống, nối nhau trong rừng
Lại nghe tiếng quốc chùng dưới nguyệt
Núi cùng đồi rậm rịt quạnh hiu
Đường  đất Thục, khó đi nhiều
Khó đi hơn cả đường leo lên trời
Mới nghe thấy, rợn người, tái mặt
Núi cách trời gang tấc mà thôi
Thông khô treo ngược sườn đồi
Suối bay, thác đổ, liên hồi chen nhau
Đá rung chuyển nát nhàu sườn núi
Như ngàn cơn sấm dội hang sâu
Hiểm nguy ôi biết dường bao!
Đường xa, khách có quản nào quanh queo
Núi Kiếm Các cheo leo cao ngất
Ải một người, đối mặt  muôn người
Nơi cửa ải, kẻ trông coi
Nếu không thân, sẽ thành loài sài lang
Buổi sớm đến, tránh  đàn  cọp dữ
Đêm tối sang, trốn lũ rắn dài
Mài răng hút máu ghê thay!
Giết người như chặt cành gai dễ dàng
Đất Cẩm Thành tuy rằng vui thật
Nhưng chẳng bằng sớm được về nhà
Đường Thục khó, khó bao là
Ngóng về Tây, chỉ biết là thở than!

Có 1 người thích: clicklacp

 





© 2004-2014 Vanachi