Dùng font cỡ nhỏ Dùng font cỡ vừa Dùng font cỡ lớn
RSS feed Chia sẻ trên Facebook

Ngư nhàn - 漁間

Thơ » Việt Nam » » Không Lộ thiền sư


    Facebook    Khác Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt, thời kỳ:
Đăng bởi Vanachi vào 29/06/2005 21:59
Đã sửa 2 lần, lần sửa cuối bởi Vanachi vào 23/05/2008 11:22
Đã xem 4763 lượt, có 8 trả lời (5 bản dịch, 3 thảo luận)

漁間

Ngư nhàn

Cái nhàn của ngư ông (Người dịch: Kiều Thu Hoạch)

萬里清江萬里天,
一村桑柘一村煙。
漁翁睡著無人喚,
過午醒來雪滿船。

Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên,
Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên.
Ngư ông thuỵ trước, vô nhân hoán,
Quá ngọ tỉnh lai, tuyết mãn thuyền.

Trời xanh nước biếc muôn trùng,
Một thôn sương khói, một vùng dâu đay.
Ông chài ngủ tít ai lay,
Quá trưa tỉnh dậy, tuyết bay đầy thuyền.

» Hiện dịch nghĩa


Bài thơ này thực chất là bài "Tuý trước" 醉著 của Hàn Ốc 韓偓 (844-923) đời Đường, Trung Quốc.

Nguồn: http://lib.agu.edu.vn/gsd...09530acd68f8ee1bfe963.2.2


 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (8 bài trả lời)
[1]

Bản dịch của Kiều Thu Hoạch

Vanachi

Con chim bạt gió lạc loài kêu thương

Vanachi

Đăng ký: 31/5/2004
Số bài: 24442

Trời xanh nước biếc muôn trùng,
Một thôn sương khói, một vùng dâu đay.
Ông chài ngủ tít ai lay,
Quá trưa tỉnh dậy, tuyết bay đầy thuyền.

Nguồn: http://lib.agu.edu.vn/gsd...09530acd68f8ee1bfe963.2.2
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.

Thảo luận: Sửa lại mấy chữ Hán cho đúng

Đông Hải Cù Sinh

Đăng ký: 15/4/2008
Số bài: 19

Đề nghị sửa lại mấy chữ Hán:
1. Chữ Giá 柘  (còn có âm Đố) (Tang giá, hay Tang đố: nghĩa cây dâu, cây đay) không phải Giá 稼 (nghĩa: cấy ...Kinh Thi có câu: Bất giá bất sắc, ...)
2. Chữ Tinh 醒(Tỉnh) , không phải: Tinh 惺 .

Có 1 người thích: Vanachi

Bản dịch của Nam Trân

Vanachi

Con chim bạt gió lạc loài kêu thương

Vanachi

Đăng ký: 31/5/2004
Số bài: 24442

Vạn dặm sông xanh, trời vạn dặm,
Từng miền dâu ruối, khói quanh miền.
Ông chài ngon giấc không ai gọi,
Tỉnh dậy sau trưa, tuyết ngậm thuyền.

Nguồn: http://lib.agu.edu.vn/gsd...09530acd68f8ee1bfe963.2.2
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.

Bản dịch của Phụng Vũ Cửu Thiên

Phụng vũ cửu thiên

Phụng vũ cửu thiên

Đăng ký: 12/7/2007
Số bài: 656

Sông xanh muôn dặm soi trời
Thôn trồng dâu lại thôn mù khơi
Ngư ông say giấc chẳng ai gọi
Quá trưa tỉnh giấc thuyền trắng phơi.

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say

Bản dịch của Phụng Vũ Cửu Thiên

Phụng vũ cửu thiên

Phụng vũ cửu thiên

Đăng ký: 12/7/2007
Số bài: 656

Trời xanh vạn dặm soi sông
Một thôn dâu biếc, một thôn khói dầy
Ngư ông ngủ, chẳng ai lay
Quá trưa tỉnh giấc, tuyềt bay đầy thuyền.

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say

Thảo luận: Đi tìm xuất xứ một bài thơ

Vanachi

Con chim bạt gió lạc loài kêu thương

Vanachi

Đăng ký: 31/5/2004
Số bài: 24442

Đi tìm xuất xứ một bài thơ
Đỗ Phương Lâm

Bài viết này là một vài ý kiến trao đổi của chúng tôi về một vấn đề đã có hoài nghi từ khá lâu nay. Đó là xuất xứ một bài thơ được cho là của nhà sư Dương Không Lộ ( ? – 1119) đời Lý: bài Ngư nhàn:

Vạn lý thanh giang vạn lý thiên
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên
Ngư ông thụy trước vô nhân hoán
Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.

Dịch thơ:

Trời xanh nước biếc muôn trùng
Một vùng sương khói, một vùng dâu đay
Ông chài ngủ tít ai lay
Quá trưa tỉnh dậy, tuyết bay đầy thuyền.
(Kiều Thu Hoạch)

Phải nói rằng đây là một bài thơ tứ tuyệt rất hay, do Đinh Gia Thuyết công bố lần đầu tiên trong bài Một vị Thánh tăng của Ninh Bình, trên tờ Đuốc Tuệ số 75, sau đó Viện Văn học chính thức đem vào phần văn học sử thời đại Lý - Trần. Sau này, trong nhiều tuyển tập nghiên cứu, phê bình, lý luận về văn học Lý - Trần khác, bài thơ này đã được giới thiệu, công nhận như một bài thơ của Dương Không Lộ. Tuy nhiên xuất xứ của bài thơ “ít nhiều đáng nghi vấn” (Chú thích của Viện Văn học trong cuốn Thơ văn Lý - Trần, tập 1, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1977, tr.386). Mối hoài nghi về xuất xứ không rõ ràng ấy của bài thơ Ngư nhàn khiến chúng tôi trong quá trình tiếp xúc với các văn bản Hán văn luôn lưu tâm, chú ý, may ra tìm được một cứ liệu xác đáng. Và rồi trong một lần gần đây, chúng tôi được đọc một bài thơ rất giống với Ngư nhàn. Đó là bài Túy trước của tác giả Hàn Ác in trong cuốn Toàn Đường thi quyển hạ, Thượng Hải Cổ tịch xuất bản xã ấn bản năm 1995. Về cuốn sách này xin được giới thiệu vắn tắt như sau: Toàn Đường thi là một bộ sách gồm hai quyển (quyển Thượng và quyển Hạ) do công sức của rất nhiều nhà sưu tầm, nghiên cứu, phụng sắc vua Khang Hy nhà Thanh biên soạn mà thành, trong đó tập hợp hơn 48.000 bài thơ của 2.200 nhà thơ đời Đường (618 - 907). Có thể nói đây là một công trình sưu tập lớn nhất về thơ Đường.

Đối chiếu hai bài thơ Túy trước và Ngư nhàn của hai tác giả (trong bài viết này vẫn tạm coi Ngư nhàn là của Dương Không Lộ) có cách biệt rất lớn cả về không gian và thời gian lại chẳng thấy có khác biệt nào ngoài đầu đề Túy trước (Say mèm) # Ngư nhàn (Cái nhàn nhã của làng chài) và một chữ duy nhất, chữ thứ 17: túy (say rượu) thụy (ngủ)… Hàn Ác viết là: Ngư ông thụy trước vô nhân hoán, còn Không Lộ lại viết: Ngư ông túy trước vô nhân hoán.

Những khác biệt về hình thức này tưởng như không gây khác biệt lớn về nội dung của hai bài thơ. Nhưng thực ra thì không phải như vậy. Ngay tên gọi của hai bài thơ cũng đã hướng chúng ta vào hai đối tượng chủ thể hoàn toàn khác nhau, mang lại những cảm nhận rất cách biệt nơi người đọc. Xem xét kỹ hai bài thơ, ta có cảm giác như bài Ngư nhàn là một sự sửa chữa cẩu thả nào đó từ bài Túy trước. Có hay không điều đó? Dầu sao, chúng tôi cũng mong muốn chuyển đến các bạn vài suy nghĩ của riêng mình.

Thử ngược lại thời gian theo tiến trình công tác sưu tập thơ văn Lý - Trần ta thấy có hơn năm trăm năm lịch sử chia làm ba thời kỳ rõ ràng. Thời kỳ đầu thế kỷ XV với một số công trình tiêu biểu như: Việt âm thi tập (Phan Phu Tiên - 1433), Tinh tuyển chư gia luật thi (Dương Đức Nhan), Trích diễm thi tập (Hoàng Đức Lương - 1497). Thời kỳ thứ hai thế kỷ XVII - XVIII với các công trình Khóa hư lục (Trần Thái Tông), Thiền Uyển tập anh… Thời kỳ thứ ba: nửa đầu thế kỷ XX với một số lượng rất khiêm tốn các tác phẩm được sưu tầm và trong đó lại có khá nhiều sai sót. Nguyên nhân là do qua thế kỷ XVIII việc phát hiện tài liệu mới hầu như không còn. Người ta đành bằng lòng sao đi chép lại những cái đã tìm ra từ trước, để rồi kết quả là các văn bản càng thêm sai lạc. Thế nhưng việc giới thiệu thơ văn Lý - Trần đột nhiên dấy lên thành phong trào vào những năm 30 - 40 của thế kỷ XX. Chủ yếu là các bài viết của các tác giả: Đinh Văn Chấp, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Đồ Nam Tử Nguyễn Trọng Thuật, Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, Thi Nham Đinh Gia Thuyết, Nguyễn Lợi, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm… trên một số sách báo như Nam Phong, Đuốc Tuệ, Tri Tân… Đương nhiên trong tình hình muộn mằn của thế kỷ XX, mà những mảnh tài liệu còn sót lại sau năm. sáu trăm năm không những đã sai lạc quá nhiều mà còn phân tán, muốn giải đáp thấu triệt vấn đề thì còn phải mất nhiều thì giờ. Một ít cố gắng bước đầu chưa thể nào thỏa mãn được điều mà mọi người mong đợi, nhất là những cố gắng này phần lớn không dựa trên những phương pháp khoa học chặt chẽ, và cho đến nay một số trong đó đã dần để lộ những khe hở nghiêm trọng. Xin được kể lại một ví dụ minh chứng cho điều này: Năm 1921, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, cho dịch đăng trên báo Nam Phong (số 40, 7 – 1921) tiểu thuyết Lĩnh Nam dật sử, nói là của Ma Văn Cao một nhà văn người dân tộc Dao ở vùng núi tỉnh Hòa Bình ngày nay, sáng tác bằng chữ dân tộc vào thế kỷ XI, cuối đời Lý, và do Trần Nhật Duật dịch ra chữ Hán năm 1297. Một phát hiện thật bất ngờ nhưng cũng để lại nhiều ngờ vực. Và sau đó, liên tục trên các sách báo, Lĩnh Nam dật sử nghiễm nhiên được coi là một tác phẩm xuất hiện vào đời Trần. Nhưng cuối cùng thì các nhà thư tịch học đã giải quyết xong vấn đề gốc gác của tiểu thuyết này. Đó là một tác phẩm nguyên của Trung Quốc, có tên: Hội đồ Lĩnh Nam dật sử ra đời vào cuối thế kỷ XVIII. Sở dĩ có sự nhầm lẫn này của ông Đông Châu là vì sách Hội đồ Lĩnh Nam dật sử đã bị ai đó “chế biến” lại, thay đổi tên tác giả, sửa chữa chút ít về nội dung và bài tựa, rồi bán cho Thư viện Viễn đông Bác cổ để kiếm hời. Đông Châu chỉ mới đọc thấy có một bản sao kém cỏi này mà đã vội đưa ra một kết luận. Thật đáng buồn khi mà trong xã hội thực dân, “đồ cổ” văn chương cũng trở thành vật mua bán khiến cho xuất hiện những tác phẩm giả mạo. Thêm vào đó, những sai sót về mặt phương pháp của một số người sưu tầm, nghiên cứu - mà những người này đến nay đều đã quá cố - đã dẫn đến những ngờ vực khó làm sáng tỏ. Phải chăng Ngư nhàn cũng có chung một số phận phiêu diêu kiểu Lĩnh Nam dật sử ? Ngày nay chúng ta không ai biết Đinh Gia Thuyết dựa vào nguồn tư liệu nào mà ông có thể khẳng định một bài thơ có tên Ngư nhàn do Không Lộ Thiền sư để lại cho hậu thế.

Dương Không Lộ, tên thực và năm sinh đến nay vẫn chưa rõ. Quê ở làng Hải Thanh, thuộc lộ Thiên Trường, nay thuộc tỉnh Ninh Bình. Tổ tiên ông làm nghề chài lưới. Đến đời ông mới bỏ nghề ấy đi tu. Từng tu ở các chùa Nghiêm Quang (?), Chúc Thánh (trên núi Phả Lại), Hà Trạch (?). Ông là một nhà chân tu, chuyên nghiên cứu Thiền tông và Mật tông. Có một số truyền thuyết kể rằng ông tu luyện đạt đạo, có thể đi trên nước, bay giữa trời, đánh chết hổ và vật ngã rồng (trong Lĩnh Nam chích quái và Lịch triều hiến chương loại chí). Ông cùng Thiền sư Giác Hải du ngoạn những nơi danh lam thắng cảnh, sống gần gũi với thiên nhiên, hoàn toàn thoát tục, chuyên tâm tu luyện để thành chính quả. Chắc hẳn ông là một nhà sư rất giỏi thơ văn lúc bấy giờ. Tác phẩm của ông sưu tầm được không nhiều, chỉ vẻn vẹn có hai bài thơ tứ tuyệt: Ngôn hoài (tỏ nỗi cảm hoài) và Ngư nhàn.

Thật đáng tiếc cả hai bài thơ này đều đang để lại cho chúng ta những dấu hỏi ngờ vực. Trước đây, người ta đã tranh cãi khá lâu về xuất xứ của bài thơ Ngôn hoài. Có nhiều người đặt vấn đề liệu Ngôn hoài có phải là sáng tác của sư Không Lộ, hay đó chính là dị bản của một bài thơ Đường. Một số ý kiến khác lại cho rằng Ngôn hoài có nhiều chỗ giống với một bài thơ của Lý Tường Trung Quốc, nhưng chỉ do đó là một sự vận dụng thơ cổ vào trong các sáng tác thời xưa. Những tranh luận đó vẫn chưa đến hồi ngã ngũ, thì bây giờ lại đến lượt bài thơ còn lại: Ngư nhàn sắp phải đặt lên bàn để các chuyên gia xem xét.

Theo ý kiến chủ quan của chúng tôi, Túy trước (say mèm) là một cái tên có logic và hợp lý hơn Ngư nhàn (cái nhàn nhã của làng chài). Chính vì đặt trong mối quan hệ với đầu đề của bài thơ, mà từ thụy (ngủ) là một sự câu nệ bất đắc dĩ. Trong khung cảnh thanh bình giữa cái bát ngát, rộng dài của sông nước, của trời cao, tác giả của bài thơ Ngư nhàn không thể tả một ông già vô tâm say rượu túy lúy, mà phải là một ông già lười biếng, ngủ quên công việc thì mới lột tả được nhàn nhã của làng chài. Dù dùng từ thụy hay túy thì bài thơ vẫn là một bài tả cảnh rất đặc sắc, cho thấy tác giả của nó là người vui thích điền viên, thích cuộc sống nhàn nhã, an lạc. Chất trữ tình lãng mạn của bài thơ không hề mang ý vị cửa Thiền. Hai câu thơ cuối cho ta thấy những bất hợp lý:

Ông chài ngủ say quá, không ai gọi,
Quá trưa tỉnh dậy, tuyết xuống đầy thuyền.

Trong cái lạnh giá của băng tuyết phủ đầy, một ông già rất khó có thể ngủ say quá quên cả không gian, thời gian, công việc, nhưng nếu là say rượu quá thì câu thơ dễ được chấp nhận hơn về mặt logic. Vả lại cái cảnh tuyết rơi, dù là một ngàn năm về trước cũng khó có thể xảy ra ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nước ta. Không gian trong bài thơ dễ gợi trí ta liên tưởng đến một vùng quê nào đó ở phương Bắc hơn. Vậy lẽ nào Không Lộ Thiền sư lại viết bài thơ này trong một dịp ông du ngoạn đến tận phương Bắc xa xôi ? Tuyết là một hình ảnh rất thường gặp trong thơ văn, điển cố Trung Quốc, nhưng rất hy hữu xuất hiện trong thơ văn (nhất là thơ văn tả cảnh) của ta.

Chúng ta không loại trừ khả năng Túy trước của Hàn Ác, hoặc đã bị sửa chữa, hoặc do một nguyên nhân nào đó đã trở thành Ngư nhàn của Không Lộ. Biết đâu, Đinh Gia Thuyết xưa kia vì muốn ca ngợi nhà sư có nhiều phép thuật màu nhiệm mà ông đã gọi là thánh tăng của quê hương Ninh Bình nên đã “xào sáo” bài thơ này và gán cho Không Lộ.

Mọi giả thuyết đều cần phải được xem xét kỹ lưỡng. Từ giả thuyết đến kết luận là một chặng đường dài. Nghiên cứu văn học sử là một công việc đầy chông gai. Chúng tôi mạnh dạn “đan giỏ giữa đường”, đề cập vấn đề này, kính mong các bậc cao tài bác nhã rộng lòng chỉ giáo.

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 4/2002
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.

Thảo luận: Hai bài kệ của Không Lộ

Vodanhthi

Nguyệt lạc ba tâm

Vodanhthi

Đăng ký: 29/12/2008
Số bài: 2860

Hai bài kệ của Không Lộ



Thiền sư Không Lộ họ Dương, không rõ tên thực là gì quê ở làng Hải Thanh, Nam Định. Ông cha chuyên nghề chài lưới, đến đời sư mới bỏ nghề ấy đi tu đạo Phật. Theo truyền thuyết ngài giỏi pháp thuật, và có biệt tài về xây dựng. Các tác phẩm của sư để lại cho chúng ta là những chùa chiền xây cất tráng lệ kỳ vĩ, đánh dấu sự thành tựu về nghệ thuật kiến trúc đời Lý. Ta có thể kể những chùa cổ đẹp nhất nước, do sư xây dựng toàn bằng gỗ không một cái đinh, cả nghìn năm nay vẫn còn làm chúng ta ngưỡng mộ như: Chùa Cổ Lễ cao ngất hoành tráng tại Nam Định và chùa Nghiêm Quang, sau đổi ra là Thần Quang, hay chùa Keo, tại Giao Thủy, Nam Định. Chùa Keo đã bị bão tàn phá năm 1611. Vào thế kỷ thứ 17 dân làng Keo di dân tới hai bờ sông Hồng, xây lên hai chùa, một với gác chuông đẹp lạ lùng ở làng Nghĩa Dũng, Vũ Thư, Thái Bình (tả ngạn sông), và một phó bản rất xinh xắn ở làng Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định (hữu ngạn). Hai chùa cùng được gọi là chùa Keo, được xây dựng theo cùng mẫu chùa chính gốc tại Giao Thuỷ.
Sư mất năm 1119, để lại cho chúng ta hai bài kệ bằng chữ Hán là Ngôn Hoài và Ngư Nhàn. Bài thứ nhất có rất nhiều bản dịch của nhiều vị túc nho từ xưa tới nay. Tôi thích nhất bản của thiền sư Nhất Hạnh, với lời bình: “Một thi hứng rất siêu thoát, ít thấy trong thi ca”. Tôi xin chép lại dưới đây bài kệ và bài thơ dịch Ngôn Hoài:

Trạch đắc long xà địa khả cư
Dã tình chung nhật lạc vô dư
Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

Bản dịch của thiền sư Nhất Hạnh, Ký tên Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Saigon, nxb Lá Bối 1973:

Chọn nơi địa thế đẹp sông hồ
Vui thú tình quê quen sớm trưa
Có lúc trèo lên đầu chóp núi
Kêu dài một tiếng lạnh hư vô.

Hoà thượng Thích Thanh Từ trong cuốn Thiền Sư Việt Nam giảng giải như sau: Câu chót nói lên cái phi thường của người đạt đạo ở núi rừng. Kêu dài một tiếng mà lạnh cả bầu trời. Ý ngài nói chỗ núi rừng vắng vẻ rất thích hợp với người tu, khi lên chóp núi tĩnh tu, đạo lực đầy đủ rồi thì làm kinh động cả trời đất, hay nói cách khác là cảm ứng cả trời đất.

Bài kệ thứ hai Ngư Nhàn, không may mắn như bài trước, được rất ít người dịch, và bản dịch thường không nói lên được ý thiền ẩn trong đó. Có lẽ một phần vì bài chữ Hán quá cô đọng, nhiều chữ Việt Hán, dễ hiểu, dễ dịch. Nhưng đọc bài dịch xong, người đọc không thấy sâu hơn những dòng chữ đó. Vì thực sự, đây là một bài thơ viết theo “nghệ thuật sắp đặt”(!). Những nhóm chữ đặt bên cạnh nhau, không một chữ giải thích sự liên hệ. Người đọc ai cũng có thể hiểu theo ý riêng của mình.

Dưới đây chúng tôi mạo muội đưa ra một vài ý nghĩ về bài thơ và một bài dịch mới:

Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên
Ngư ông thùy trước vô nhân hoán
Quá ngọ, tỉnh lai, tuyết mãn thuyền.


Dịch nghĩa: Ông chài nhàn

Vạn dậm sông trong, vạn dậm trời
Một làng dâu gai một làng khói
Ông chài mê ngủ, không có ai gọi ồn ào
Qua giờ ngọ, (qua buổi trưa), tỉnh dậy, tuyết đầy cả thuyền.

Trước hết, để tìm hiểu ý bài thơ này, ta hãy đọc mấy câu thơ sau của vua Trần Thái Tông, một thiền gia rất thâm sâu thuộc thế kỷ thứ 13, sau thiền sư Không Lộ gần hai thế kỷ, và bài giảng của Thiền sư Nhất Hạnh:

Thiên giang hữu thuỷ thiên giang nguyệt
Vạn lý vô vân vạn lý thiên


(Sông nào có nước, có trăng soi
Dậm trời nào mây vắng, dậm trời ấy xanh (màu da trời))

Áp dụng “công thức” này vào bài thơ Ngôn Hoài, nghĩa câu đầu là: “Bất cứ sông nào có nước trong thì có bóng trời mây in vào đó.” Đó chính là một chiêm nghiệm của câu “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu” (Mặt đất của tâm nếu không bị ngăn che, thì mặt trời trí tuệ tự nhiên soi đến), của tổ Bách Trượng, rất nổi tiếng trong thiền môn.Thiền sư Vô Ngôn Thông đạt đạo nơi câu này. Từ đây ta có thể tạm dịch nghĩa bài Ngư Nhàn:

Câu 1 : Sông trong, dài vạn dậm, có hình bóng vạn dậm trời in xuống.
Câu 2 : (Trái lại) Làng trồng dâu, trồng gai thì khói lan mờ che phủ hết cả làng.
Câu 3 : Làng quê im vắng, không tiếng người gọi, ông chài ngủ yên. (có vẻ như ông chài đã đổi sang nghề lái đò giúp người qua sông), “không người gọi” nghĩa là không có khách gọi đò.
Câu 4: Quá trưa, ông chợt tỉnh dậy, ngỡ ngàng thấy nắng chiếu chói lòa như tuyết đầy thuyền.

Vậy rõ là không thể dùng bảy chữ để dịch, để diễn giải đủ nghĩa cúa mỗi câu của bài kệ này, cho nên, tôi… chạy sang lục bát!!

Ông Chài Nhàn

Sông trong, vạn dậm sông trong
In nguyên vạn dậm trời lồng nước mây
Ruộng dâu, gai mọc xóm này
Mịt mù một xóm tràn đầy khói lam
Vắng im không tiếng người vang
Ông chài say giấc ngủ an lặng tờ
Ngọ qua, chợt tỉnh giấc trưa
Ơ kìa! trắng xóa tuyết mơ đầy thuyền.


Ông chài này là thiền sư, trước kia là ông chài sau đã đi tu, ông không đi câu cá nữa mà đang nằm ngủ (chờ khách gọi đò). Tâm ông thanh tịnh như sông trong, làm gì ông không thấy được “tuệ nhật tự chiếu” như tuyết trắng đầy thuyền?

Nguồn: Phạm Thảo Nguyên http://www.diendan.org/dich-thuat/hai-bai-ke/

Bản dịch của nguyenvandungvicar

PH@

Đăng ký: 9/1/2014
Số bài: 170

Sông trong in trời xanh vạn lý
Thôn ngàn dâu sương khói bình yên
Lão chài ngủ say không người gọi
Qua trưa tỉnh dậy tuyết đầy thuyền


 





© 2004-2014 Vanachi