Chia sẻ trên Facebook Trang Thi Viện trên Facebook Chia sẻ trên Google+ Chia sẻ trên Twitter RSS feed
Dùng font cỡ nhỏ Dùng font cỡ vừa Dùng font cỡ lớn

Qua đèo Ngang

Thơ » Việt Nam » Bà huyện Thanh Quan


» Hiện một số bài thơ có cùng từ khoá



Thể thơ: Thất ngôn bát cú, thời kỳ: Nguyễn
Từ khoá: đèo Ngang
Đã được xem 16040 lần
Đăng bởi Vanachi vào 31/05/2004 19:24
Đã sửa 3 lần, lần sửa cuối bởi Vanachi vào 07/04/2006 12:35
8 bài trả lời
Thao tác
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen lá đá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,
Thương nhà mỏi miệng cái da da.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.



 

Thảo luận thêm: Chợ hay rợ

Vanachi

Con chim bạt gió lạc loài kêu thương

Vanachi

Đăng ký: 31/5/2004
Số bài gửi: 23942

1. CHỢ hay RỢ
Ở thời điểm sáng tác bài Qua đèo Ngang, từ CHỢ có thể dùng âm xuất phát TRỢ trong Hán Việt vì lúc này sự đối lập TR > < CH đã bị xoá nhãn, cùng với sự đối lập GI > < D > < R..., vì vậy chữ RỢ cũng có thể ghi bằng TRỢ.

Theo sự thống kê cách ghi âm đầu [R] trong tự điển chữ Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm (sắp xuất bản), chúng tôi thấy:
Có:
329 trường hợp ghi bằng L
63 trường hợp ghi bằng TR, CH
60 trường hợp ghi bằng Đ
131 trường hợp ghi bằng GI, D
36 trường hợp ghi bằng T (1)

Theo Tự điển chữ Nôm của Vũ Văn Kính (Nxb Văn nghệ TP HCM và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học), cách ghi âm đầu [R] chữ Nôm phân bố như sau:
Có:
539 trường hợp ghi bằng L
84 trường hợp ghi bằng TR, CH
110 trường hợp ghi bằng GI, D
27 trường hợp ghi bằng TH ...

Như vậy là trường hợp dùng TR, CH ghi R chiếm tần suất khá lớn. Ông Nguyễn Hùng Vĩ (Văn hoá Hà Tĩnh số 71, 6/2004) cho ta biết rằng có 12 tư liệu ghi bài thơ Qua đèo Ngang, trong đó có 5 bản chữ Nôm và 7 bản chữ Quốc ngữ. Các bản chữ Quốc ngữ không cho ta được thông tin gì. Trong 5 bản chữ Nôm có bản AB.620 chữ RỢ được ghi (theo ông là rất lưu loát) bằng bộ nhân đứng (亻) bên cạnh chữ TRỢ (助). Đây là điểm rất có giá trị với sự thống kê trên, nó cho ta thấy 톭 chắc chắn phải đọc là RỢ. Nếu là chữ CHỢ thì ở thời Bà huyện Thanh Quan đã có chữ 닭 (âm TRỢ đã được bỏ tính chất quặt lưỡi, đọc là CHỢ, và chữ thị (市) nghĩa là “cái chợ” biểu nghĩa). Nếu không có cứ liệu Nôm nào bác lại thì chắc chắn đọc là RỢ đúng hơn.

2. Chữ RỢ có ý khinh miệt không?
Ý khinh miệt là ngày nay chúng ta thêm vào, chữ thực tình RỢ chỉ là cách gọi xưa đối với các dân tộc ngoài Hoa Hạ của người Hán. Tiếng Hán có 東 戎, 西 夷, 南 蠻, 北狄 “đông Nhung, tây Di, nam Man, bắc Địch” (phía đông có người Nhung, phía tây có người Di, phía nam có người Man, phía bắc có người Địch). Chữ DI có âm Hán cổ là RỢ. Ta biết lúc đầu ở âm Hán Thượng cổ có âm đầu R, sau này phần lớn thành L và một số thành D, ví dụ:
Chữ Hán Thượng cổ / Hán Trung cổ
龍 Rồng → Long
簾 Rèm → Liêm
樑 Rường (cột) → Lương (đống)
歟 Ru → Dư
夷 RỢ → DI ...

Người ta sẽ hỏi tại sao nguyên âm [Ơ] trong RỢ lại chuyển thành nguyên âm trong DI được? Theo Bernhard Karlgren trong Gramata serika (Bulletin N.12, Stockholm, 1940), trong tiếng Hán Thượng cổ có các âm [Ơ], [IƠ], [IƠI], sang Hán Trung cổ sẽ chuyển thành . Có thể thấy dấu vết trong cách đọc tiếng Hán ở Việt Nam như sau:

Chữ Tiền Hán Việt Hán Việt / Chữ Tiền Hán Việt Hán Việt
旗 Cờ → Kì
碑 Bia → Bi
疑 Ngờ → Nghi
匙 Thìa → Thì
絲 Tơ → Ti
離 Lìa → Li
詩 Thơ → Thi
眉 Mày → Mi
夷 RỢ → DI
屍 Thây → Thi

Để cho rõ thêm ta cũng có thể chứng minh rằng từ MỌI lúc đầu vốn không có ý gì là khinh miệt cả. Nó bắt nguồn từ MAN như đã nói trên, MAN là dùng để phiên âm từ MON (trong nhóm MON - KHMER), vì trong tiếng Hán cổ không có âm [A] bẹt mà chỉ có âm [A] tròn môi [A], cho nên chữ MAN thời cổ được đọc là MAN, trỏ dân tộc Mon.
Có thể dẫn chứng thêm như từ PNAR Nam Á (cái ná) người Hán lúc này mới có âm [A] tròn môi nên mượn đọc thành NỖ, quay lại ta lại đọc thành NỎ. Còn MON sang MỌI là do âm cuối [-L] cổ có xu hướng chuyển thành [-N] và cuối cùng thành [-I]. Ví dụ:

Chăl (Mường) → Chạy (Việt)
Yơl ‘’ → Dậy ‘’
Pul ‘’ → Búi ‘’
Tơkel (Tha Vừng) → Gáy ‘’
Chốc cún (Phương ngữ Thanh Hoá) → Đầu gối ‘’
Tàu băn ‘’ → Tàu bay ‘’
Thún ‘’ → Thối ‘’
Cưởn ‘’ → Gửi ‘’

Tóm lại là MỌI hay RỢ chỉ là một cách đọc trong tiếng Việt, mà bản thân cách đọc thì không có tội tình gì mà ta phải phê phán nó. Và nếu Bà huyện Thanh Quan có dùng từ RỢ thì cũng chỉ để trỏ những người sống xa kinh đô, xa “Hoa Hạ” của Việt Nam mà thôi.

3. Về chữ NƯỚC
Đa số các nhà tranh luận đều hiểu NƯỚC là đất nước, là tổ quốc. Thực ra không phải thế. NƯỚC chỉ để trỏ một vùng đất. Trong bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (thế kỉ XV - XVI) ta gặp những câu sau: dõi người dỗ thốt trốn đi NƯỚC khác (tr. 19a) xương bạc tan tác trông quê NƯỚC người (tr.19a) xa nhà đi NƯỚC khác, hoặc là nhân buôn bán, hoặc là vì đi chác, lăn lóc luân hồi
(tr. 19b) hoặc ở lâu trong NƯỚC người chẳng hay ghín bó (tr. 19b)
hoặc đi cùng chồng trong NƯỚC xa quê khác, lìa rời áng nạ (tr. 22a)

Qua các dẫn chứng trên ta thấy NƯỚC là chỉ một vùng đất, chưa có nghĩa là đất nước như ngày nay. Đến thời Nguyễn Khuyến, NƯỚC vẫn còn mang nghĩa ấy. Hãy nghe câu thơ của ông:
“Một tiếng trên không ngỗng nước nào” (Thu vịnh).

Chữ QUỐC trong bài thơ như đã biết được viết là 蟈 hay 돐, là tên chim đỗ quyên hay chim cuốc. Ghi là QUỐC hay CUỐC là do người phiên, trong chữ Nôm thì ghi như nhau. Đây là cách chơi chữ của tác giả. GIA GIA là đa đa, giống gà nhỏ sống ở ven rừng (theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, Nxb Giáo dục, H, 1992). Đa đa có thể biến âm thành DA DA, giống như các trường hợp sau:

Đình → Dừng
Đao → Dao
Đốc (tâm) → Dốc (lòng)
Đẩy → Dẩy ...

Giữ DA DA và GIA GIA không có gì khác nhau vì lúc này đã có sự xoá nhãn giữa đối lập D > < GI. Phiên là DA DA hay GIA GIA là do người phiên âm, và cũng để phô tài chơi chữ của tác giả. Có tiếng kêu của chim cuốc hay đa đa hay không là do người viết căn cứ vào hiện thực hoặc tâm tưởng. Giữa lúc mặt trời “xế tà” thì nỗi nhớ quê hương đã trở thành ước lệ trong thơ cổ. Các nhà tranh luận có bàn về cách đối, cho rằng người phải đối với người, vật phải đối với vật. Đấy là cách nghĩ của người ngày nay. Các nhà sáng tác xưa viết văn đối ngẫu theo cái học từ chương. Thêm nữa, ngành ngữ pháp của ta cùng với việc phân định từ loại cũng chỉ mới có từ lúc người Pháp sang, trong khi ngành âm vận và huấn hỗ của Trung Hoa thì ông cha ta đã thông thạo từ lâu. Về đối bằng - trắc thì không có gì phải bàn, ông cha ta đã nắm được nó từ khi tiếng Việt xuất hiện đầy đủ thanh điệu, tức là từ thế kỉ XII theo ý kiến của các nhà nghiên cứu về ngữ âm lịch sử tiếng Việt. Còn để đối ý thì người xưa chia các từ ra làm 4 loại:
- Thực : gồm danh từ và đại từ nhân xưng
- Bán thực : gồm động từ và tính từ đơn tiết
- Bán hư : gồm tính từ đa tiết, từ láy và từ lặp
- Hư : gồm hư từ
(vế bên phải là do người ngày nay xác định ra)

Nếu đem tiêu chuẩn ấy mà so thì bài Qua đèo Ngang có cách đối rất chỉnh không chê vào đâu được, và CHỢ hay RỢ đều được cả, đều đúng với phép đối, nhưng RỢ thì đúng với ý nghĩa chung của bài hơn.


Thử bàn về vấn đề phiên Nôm, GS. TS. Nguyễn Ngọc San, Trường Đại học Sư phạm, Hà Nội
Hội nghị Quốc tế về chữ Nôm 12,13-11-2004
Thư viện Quốc gia Việt Nam – Hà Nội

(1) Thực ra, [R] là cách đọc cũ của [T]. Ta so sánh: 鬚 Râu - Tu, 婿 Rể - Tế, 卒 Rốt - Tốt...
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Có 1 người cảm ơn: Phạm Thôn Nhân

Thảo luận thêm: Bản dịch chữ Hán của Nguyễn Văn Thích

Vanachi

Con chim bạt gió lạc loài kêu thương

Vanachi

Đăng ký: 31/5/2004
Số bài gửi: 23942

Bộ đáo Hoành Quan nhật dĩ tà,
Yên ba gian thạch, thạch gian hoa.
Tiều quy nham hạ, ta ta tiểu,
Thị tập giang biên, cá cá đa.
Đỗ vũ tâm thương, thanh quốc quốc,
Giá cô hồn đoạn, tứ gia gia.
Đình đình trữ vọng: thiên, sơn, hải,
Nhất phiến cô hoài, ta ngã ta.

步到橫關日已斜,
煙波間石石間花。
樵歸岩下些些小,
市集江邊箇箇多。
杜宇心傷聲國國,
鷓鴣魂斷思家家。
停停佇望天山海,
一片孤懷嗟我嗟。

Nhân dịp phái đoàn của tổng thống Ngô Đình Diệm (nam Việt Nam) sang thăm Đài Loan năm 1959-1960, linh mục Nguyễn Văn Thích đã dịch bài thơ này sang chữ Hán tại bữa tiệc. Trong thực đơn có món giá cô nên cụ đã nảy ý dịch rồi đề sau tờ thực đơn (vì không có chữ Hán in kèm nên xin đưa ra bản chữ quốc ngữ, sau đó sẽ thử chuyển sang chữ Hán).

Nguồn: http://www.viethoc.org/phorum/read.php?11,14703
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Có 1 người cảm ơn: Phạm Thôn Nhân

Thảo luận thêm: Bản dịch chữ Hán của Lý Văn Hùng

Vanachi

Con chim bạt gió lạc loài kêu thương

Vanachi

Đăng ký: 31/5/2004
Số bài gửi: 23942

Quá Hoành sơn đỉnh tịch dương tà
Thảo mộc tê nham diệp sấn hoa
Kỳ khu lộc tế tiều tung yểu
Thác lạc giang biên điếm ảnh xa
Ưu quốc thuơng hoài hô quốc quốc
Ái gia quyện khẩu khiếu gia gia
Tiểu đình hồi vọng thiên sơn thuỷ
Nhất phiến ly tình phân ngoại gia

過橫山頂夕陽斜,
艸木擠巖葉趁花。
崎嶇麓際樵蹤杳,
錯落江邊店影賒。
憂國傷懷呼國國,
愛家倦口叫家家。
小停迴望天山水,
壹片離情分外加。

Nguồn: http://www.viethoc.org/ph...hp?15,22731,22793,quote=1
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.

Thảo luận thêm: Chữ Rợ hay Chợ

Chằn tinh Shrek

Chằn tinh Shrek

Đăng ký: 9/8/2009
Số bài gửi: 4172

Về hai chữ này thì dứt khoát chữ chợ là không thể. Đúng phải là chữ Rợ. Giải thích ngắn gọn không cần phải dài dòng và dẫn chứng nhiều làm rối thêm vấn đề. Chữ Rợ vào thời ấy, theo vùng địa phượng đồng nghĩa với ...cái chòi tạm! Ven sông VN thời xưa thường hình thành nhiều chợ tự phát vì tiện gần những bến đò ngang. Người ta làm những cái Rợ ( chòi) để che nắng che mưa trong khi họp chợ bằng những vật liệu nhẹ như tre , lá , tranh nứa. Đây có lẽ là cách giải thích đơn giản và có tính thuyết phục nhất.

Shrek - Chằn Tinh Xanh yêu thơ

Thơ Đường Luật (Tập 1)

Thảo luận thêm: cho hoi

diep97

Đăng ký: 4/10/2009
Số bài gửi: 1

2 câu đầu của văn bản cho ta biết cảnh vật đèo ngang nhìn trước mặt như thế nào?

Thảo luận thêm: Phải chăng Bà Huyện Thanh Quan đã trau chuốt lại bài thơ ĐÈO NGANG nguyên thủy ?

Phụng Hà

Đăng ký: 21/8/2007
Số bài gửi: 953

Dưới đây là bài viết của ông Nguyễn Vĩnh Tráng đăng trên  www.vietthuc.org :

Phải chăng Bà Huyện Thanh Quan đã trau chuốt lại bài thơ ĐÈO NGANG nguyên thủy ?

 Bà Huyện Thanh Quan và Bà Hồ Xuân Hương là hai nữ sĩ kiệt xuất trong nữ giới của nền Văn Học Việt Nam vào cuốt thế kỷ thứ 18, đầu thế kỷ thứ 19. Điều đó khó ai phản bác được. Hai nữ sĩ, mỗi người mỗi vẽ, mỗi người mỗi cung cách, nhưng cả hai Bà đều độc đáo. Rất nhiều nhà phê bình văn học đã cho Bà Hồ Xuân Hương có một văn phong "bình dân ", dùng rặt chữ Nôm, còn Bà Huyện Thanh Quan thì có văn phong "bác học", xen Hán tự nhiều trong tác phẩm của mình.

 Thật thế, ta thấy rất nhiều thành ngữ chữ Hán trong tác phẩm của Bà Huyện. Theo Wikipedia Tiếng Việt, ngày nay ta chỉ còn 6 bài thơ "thất ngôn bát cú" của Bà, ngoại trừ bài "Cảnh Thu", mà người ta cho rằng có thể là của Bà Hồ Xuân Hương. Trong 6 bài đó có rất nhiều thành ngữ chữ Hán, trừ bài "Qua Đèo Ngang".

 "Thành ngữ chữ Hán" tôi muốn nói ở đây, có nghĩa là ta có thành ngữ chữ Việt (Nam, Nôm) tương đương, như Triêu Mộ 朝 暮 , ta có Sớm Tối; Tuế Nguyệt 歲 月 , ta có Năm Tháng; Đoạn Trường 斷腸 ; ta có Đứt Ruột…

 Mặt khác, tôi tìm thấy trong Contes et Légendes du Pays d’Annam của Lê Văn Phát, viết năm 1913, in lần thứ 2, tại Imprimerie de l’Union Nguyễn Văn Của, Sàigòn 1925, có bài  "Le Râle d’eau " . Trong "Le Râle d’eau" lại có bài "Đèo Ngang", vô danh, rặt chữ Nôm, văn phong rất mộc mạc, còn nội dung thì giống hệt nội dung bài "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan.

 Bài " Le Râle d’eau " kể chuyện ngày xưa. Chuyện vua La Hoa (?) nước Chiêm Thành đem quân đánh Giao Chỉ. Môt cận thần tên Quốc đã hết lời can gián và xin hoãn lại cuộc viễn chinh, nhưng nhà vua không nghe. Biết rằng trận chiến này thế nào cũng đem lại thất bại, Quốc xin theo, hầu quyết tâm bảo vệ an toàn cho chúa.

 Cuộc chiến xảy ra ở Đèo Ngang. La Hoa, quá hiếu chiến, quá chủ quan, tiến thẳng đến trận tiền, nên bị trúng tên mà chết. Quá đau đớn, Quốc liều xông ra chém giết giữa muôn tên ngàn giáo để báo thù. Nhưng đơn thương độc mã, nên Quốc đã chết dưới làn sóng của địch quân. Quá uất ức, hồn của Quốc không siêu thoát được, cứ phảng phất quanh Đèo Ngang để tìm xác chủ, nhưng vô hiệu quả. Sau đó Quốc tái sinh dưới dạng con chim Cuốc để đêm đêm rít lên những tiếng kêu bi ai của một vị trung thần khóc quốc vương tử trận: "Quốc Quốc, La Hoa", Quốc ở đây,còn La Hoa ở đâu?

Một văn nhân vô danh, đi qua Đèo Ngang, nhớ lại chuyện xưa, đã làm bài thơ "Đèo Ngang".

Ông Lê Văn Phát chỉ để lại hai tác phẩm: La vie intime d’un Annamite et ses croyances vulgaires (Bulletins de la Société des Etudes Indochinoises, Imprimerie F.H Schneider Sàigòn 1907 ), và Contes et Légendes du Pays d’Annam (Imprimerie de l’Union Nguyễn Văn Của, Sàigòn 1913), bằng chữ Pháp. Như thế, có thể ông Lê Văn Phát không biết nhiều về các tác phẩm của Bà Huyện Thanh Quan. Những bài của ông Lê Văn Phát viết, toàn là chuyện cổ tích, huyền thoại dân gian cả. Bài "Đèo Ngang" trong Contes et Légendes du Pays d’Annam có thể là một giai thoại dân gian lâu đời, có trước thời Bà Huyện Thanh Quan chăng. Sau đây là bài "Đèo Ngang" theo ông Lê Văn Phát :

Đèo Ngang

Qua ải Đèo Ngang bóng ác tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen ba.
Non cao rải rác tiều vài lão,
Đất rộng lai rai xóm mấy nhà.
Nhớ chúa đau lòng con Quốc-Quốc,
Kêu người mỏi miệng tiếng Hoa-Hoa.
Dừng chơn ngóng cổ miền non nước,
Một tấm lòng riêng ta với ta.

Vô danh.

[ ... Quốc-Quốc, tên của trung thần Quốc]
[ ... Hoa-Hoa, tên của vua La Hoa]

Vậy phải chăng Bà Huyện đã lấy bài đó, đã có từ lâu, và trau chuốt lại thành một bài thơ bất hủ như ta đã biết :

Qua đèo Ngang

Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ (rợ) mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Bà Huyện Thanh Quan

Ta thử từ từ kiểm xét xem. Sáu bài thơ của Bà Huyện như sau :

1 – Chùa Trấn Bắc

Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu
Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau
Mấy tòa sen tỏa hơi hương ngự
Năm thức mây phong nếp áo chầu
Sóng lớp phế hưng coi đã rộn
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau
Người xưa cảnh cũ nào đâu tá
Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu.

Trong 8 câu của bài nầy, ta thấy có 6 câu dùng 5 thành ngữ chữ Hán và 1 chữ Hán. Cộng tất cả 11 chữ Hán:

Hành cung 行 宮 ;
cố quốc 故 國 ;
hương ngự 香 御 ;
phong 風
phế hưng 廢 興 ;
kim cổ 今 古 ;

2 – Ðền Trấn Võ

Êm ái chiều xuân tới Trấn đài
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai
Ba hồi triêu mộ *, chuông gầm sóng
Một vũng tang thuơng, nước lộn trời
Bể ái ngàn trùng khôn tát cạn
Nguồn ân trăm trượng dễ khơi vơi
Nào nào cực lạc là đâu tá
Cực lạc là đây, chín rõ mười

Trong 8 câu của bài nầy, ta thấy có 6 câu dùng 4 thành ngữ chữ Hán và 4 chữ Hán. Cộng tất cả 12 chữ Hán:

trấn đài 鎮 臺
trần ai 塵 埃
triêu mộ 朝 暮 (sớm tối)*.
tang thương 桑 蒼
ái 愛 ; trùng 重
ân 恩 ; trượng 丈

* Ba hồi triêu mộ là ba hồi chuông sớm tối. Có rất nhiều tác giả, ngay cả các tác giả gốc miền Trung và miền Nam là những người phân biệt rõ ràng hai phụ âm đầu tr và ch đã lầm lẫn viết sai hai chữ chiêu mộ thay cho hai chữ triêu mộ, như trên Wikipedia Tiếng Việt.

3 – Cảnh Chiều Hôm

Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn
Gác mái, ngư ông về viễn phố
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn
Ngàn mai gió cuốn, chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa, khách buớc dồn
Kẻ chốn chương đài nguời lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn

Trong 8 câu của bài nầy, ta thấy có 5 câu dùng 8 thành ngữ chữ Hán. Cộng tất cả 16 chữ Hán:

Hoàng hôn 黃 昏 ;
ngư ông 漁 翁 ; viễn phố 遠 鋪 ;
mục tử 牧 子 ; cô thôn 孤 村 ;
chương đài 章 臺 ; lữ thứ 旅 次 ;
hàn ôn 寒 溫 .

4 – Thăng Long thành hoài cổ

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Ðến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương.
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luốn đoạn trường.

Bài nầy đã phá kỷ lục, trong 8 câu, mỗi câu đều có thành ngữ chữ Hán, với 10 thành ngữ. Cộng tất cả là 20 chữ Hán :

tạo hóa 造 化 ; hí trường 戲 場
tinh sương 星 霜 (năm)
thu thảo 秋 艸
lâu đài 樓 臺 ; tịch dương 夕 陽
tuế nguyệt 歲 月
tang thương 桑 蒼
kim cổ 今 古
đoạn trường 斷 腸

Chỉ có bài :

5 – Nhớ Nhà

Vàng tỏa non tây, bóng ác tà
Ðầm đầm ngọn cỏ, tuyết phun hoa
Ngàn mai lác đác, chim về tổ
Dặm liễu bâng khuâng, khách nhớ nhà
Còi mục thét trăng miền khoáng dã
Chài ngư tung gió bãi bình sa
Lòng quê một bước càng ngao ngán
Mấy kẻ tình chung có thấu là

Vỏn vẹn 2 câu với 2 thành ngữ và 2 chữ Hán. Tất cả 6 chữ Hán.

mục 牧 ; khoàng dã 曠 野
ngư 漁 ; bình sa 平 沙

6 – Qua đèo Ngang

Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ (rợ) mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Bài nầy không có chữ Hán, hay có chăng là 2 chữ rất thông dụng, chữ quốc 國 , chữ gia 家 lập lại 2 lần. Hơn nữa, hai chữ Quốc Quốc, Gia Gia là hai tượng thanh của tiếng kêu của con Cuốc Cuốc (Đỗ Quyên) và con Đa Đa (Gà Gô).

Vậy, phải chăng Bà Huyện Thanh Quan đã lấy bài "Đèo Ngang" đã truyền khẩu trong dân gian từ lâu, rồi trau chuốt lại, chứ không phải Bà làm ra, vì bài "Qua Đèo Ngang", chẳng những không có văn phong "bác học" của các bài khác của Bà Huyện, mà lại "bình dân", tuy đã trau chuốt hơn văn phong rất mộc mạc và rặt tiếng Nam (Nôm) của bài "Đèo Ngang" mà Lê Văn Phát đề cập tới trong Contes et Légendes du Pays d’Annam.

Mong độc giả cho ý kiến

Nguyễn Vĩnh Tráng
( http://www.vietthuc.org?p=2779 )

Thảo luận thêm: Chợ hay Rợ

duong de

duong de

Đăng ký: 13/10/2011
Số bài gửi: 1

Theo toi thấy chữ chợ đúng hơn vì có nhiều bản ghi thế mà.

Dương dê-Không dê chỉ dương

Thảo luận thêm: Hoạ thơ

Thiềng Đức

Thiềng Đức

Đăng ký: 21/7/2009
Số bài gửi: 647

BẠN CÙNG TA
                                                 
Ngẫm suy thế thái lắm gian tà
Xã hội giả chân lọan sắc hoa
Thiện ít Ác nhiều tham chữ lợi
Phước suy Quả kém hại tông nhà
Bờ mê tu dưỡng tòan nhân lọai
Bến giác thương yêu khắp quốc gia
“Trọng nghĩa khinh tài” là phẩm hạnh
Rèn Tâm luyện Đức… bạn cùng  ta…

Thiềng Đức - 28/12/2008

(Họa bài “Qua Đèo Ngang”,
chuyển đề)
-Một chân lí đã "ngộ" ra và tôn thờ:
"Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ Tài"
Nguyễn Du





© 2004-2014 Vanachi