Thi viện

Quên mật khẩu | Đăng ký

438 người đang online (8 thành viên)

 

» Tham gia Thi Viện trên facebook Tìm nhanh:      Góp ý



Hoàng Hạc lâu - 黃鶴樓

Thơ » Trung Quốc » Thôi Hiệu



» Hiện 1 bài viết liên quan trong Thư viện bài viết
» Hiện một số bài thơ có cùng từ khoá



   Hoàng Hạc lâu (Thôi Hiệu - 崔顥, Trung Quốc)
 
Thể thơ: Thất ngôn bát cú, thời kỳ: Thịnh Đường
Từ khoá: Hoàng Hạc lâu
Đã được xem 24514 lần
Đăng bởi Vanachi vào 08/06/2005 05:03
Đã sửa 4 lần, lần sửa cuối bởi Vanachi vào 20/07/2006 16:50
x Có 80 bài trả lời
x Có 48 người yêu thích


(4.08 điểm, 40 người bầu)
Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
x Thao tác
 
 
 

黃鶴樓

Hoàng Hạc lâu

Lầu Hoàng Hạc (Người dịch: Tản Đà)

昔人已乘黃鶴去,
此地空餘黃鶴樓。
黃鶴一去不復返,
白雲千載空悠悠。
晴川歷歷漢陽樹,
芳草萋萋鸚鵡洲。
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁。

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu ?
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xưa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn.
Trên sông khói sóng cho buồn lòng aỉ.

» Hiện dịch nghĩa



Nguồn: tạp chí Ngày nay, số 80, 10-10-1937
 
 


 

Trang trong tổng số 8 trang (80 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] ›Trang sau »Trang cuối

Bản dịch của Phan Phong Linh 

khi gia

Đăng ký: 16/01/2009 18:08
Số bài gửi: 17

Đã được xem 669 lần
Đăng bởi khi gia vào 05/02/2009 00:24
Đã sửa 1 lần, lần sửa cuối bởi khi gia vào 05/02/2009 01:12
Người xưa cưỡi hạc xa bay
Mà đây hoàng hạc chốn này còn trơ
Hạc vàng mất hút tự xưa
Ngàn năm mây trắng hững hờ trôi qua
Hán Dưong cây giõi sông xa
Bãi châu Anh vũ cỏ hoa rầu rầu
Chiều tà biết cố hương đâu
Trên sông mờ sóng lòng sầu mang mang

Bản dịch của Phan Phong Linh, giáo sư dạy văn các trường trung học ở Hải phòng vào những năm 50 của thế kỷ 20, do nhà văn Thượng Sỹ cung cấp khi cũng dạy học ở HP vào thời ấy.


Có 1 người cảm ơn: tile_kg86
Bản dịch của Nguyễn Quảng Tuân 

tducchau

tducchau

Đăng ký: 03/03/2009 10:27
Số bài gửi: 91

Đã được xem 635 lần
Đăng bởi tducchau vào 27/04/2009 19:37
Đã sửa 1 lần, lần sửa cuối bởi tducchau vào 27/04/2009 19:39
Người xưa cưỡi hạc đã bay xa,
Hoàng Hạc lầu không vẫn chốn này.
Mây trắng ngàn năm lơ lửng mãi,
Hạc vàng một tếch khuất trùng ngay.
Hàn Dương sông tạnh cây phô sắc,
Anh Vũ cồn xa cỏ mọc dày.
Chiều muộn quê nhà đâu khuất bóng?
Trên sông khói sóng gợi buồn thay.


Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt

Có 1 người cảm ơn: tile_kg86

Thảo luận thêm: Hoàng Hạc lâu 

ladyburg

Đăng ký: 01/08/2009 13:00
Số bài gửi: 2

Đã được xem 610 lần
Đăng bởi ladyburg vào 01/08/2009 13:48
theo em biết ở bản dịch của Khương Hữu Dụng câu thứ ba phải là: "Hạc vàng một đã đi đi biệt"



Có 1 người cảm ơn: tile_kg86
Bản dịch của Đinh Hùng II 

kung fu thiếu lâm

(Đã bị khoá vì lý do: liên tục vi phạm quy định)

kung fu thiếu lâm

Đăng ký: 30/10/2009 15:07
Số bài gửi: 4

Đã được xem 584 lần
Đăng bởi kung fu thiếu lâm vào 01/11/2009 01:27
Người xưa đã cưỡi chim Hoàng Hạc,
Đất trời lầu Hạc hãy còn đây.
Hạc vàng bay qua không trở lại;
Ngàn năm mây trắng nhở nhơ bay.
Hán Dương sông sáng, cây rõ bóng,
Cỏ thơm Anh Vũ, bãi xanh dày.
Trời chiều quan tái, quê đâu nhi?
Trên sông sóng khói gợi sầu đầy....



Có 2 người cảm ơn: tile_kg86, japan kokoro itai
Bản dịch của ThachHuong 

ThachHuong

Đăng ký: 12/12/2009 22:50
Số bài gửi: 2

Đã được xem 552 lần
Đăng bởi ThachHuong vào 12/12/2009 23:34
Hạc vàng người cũ đã bay xa
Trơ lầu hoàng hạc bóng ai qua
Hạc vàng sải cánh không trở lại
Ngàn năm mây trắng vẫn thướt tha
Hán Dương cây rậm lay bóng nước
Cỏ non Anh Vũ bãi xanh la
Chiều nay quê cũ nhìn đâu thấy
Khói sóng trên sông nhuộm bóng tà



Có 1 người cảm ơn: tile_kg86
Thảo luận thêm: Bình 

Khoi Dinh Bang

Khoi Dinh Bang

Đăng ký: 01/08/2009 20:53
Số bài gửi: 311

Đã được xem 494 lần
Đăng bởi Khoi Dinh Bang vào 12/03/2010 07:44
Bài thơ HOÀNG HẠC LÂU của Thôi Hiệu xưa nay được coi là " tuyệt kỳ bút pháp"...chỉ mấy chữ"tình xuyên phương thảo,nhật mộ yên ba"...với nghệ thuật thơ Đường bậc thầy thì Thôi Hiệu đã mệnh ý hết rồi,thẩm cách xong rồi và phát bút đã là vô tiền khoáng hậu; thế nghĩa là với HOÀNG HẠC LÂU thi sĩ đã đạt tiêu chí" hoàn hảo" khiến cho Đại thi hào Lý Bạch cũng phải cúi đầu nhún nhường"đạo bất đăc"( không nói được nữa !)? Các cụ ta xưa đã từng giảng :
Cái "diệu" của Thôi Hiệu ở chỗ: chỉ 1 câu tả "lầu",còn 3 câu kia đều tả " người xưa"...trong đó câu 1 tả "người xưa",câu 3 là nghĩ "người xưa",câu 4 là ngóng "người xưa",cứ như phớt lờ không nhắc gì đến "lầu". Câu 5-8 tiền giải tả "người xưa",hậu giải tả "người nay",tuyệt nhiên không tả đến "lầu",Thi sĩ chỉ NHẤT Ý TỰA CAO TRÔNG XA,riêng thổ lộ hoài bão của mình.Rồi"hương quan hà xứ thị"(ở nơi này)với cây thì "lịch lịch"(in rõ),bãi thì"thê thê"(tươi tốt),riêng có MẮT thì ngóng "hương quan" là không biết "hà xứ"(nơi nào). Rồi với 2 chữ "nhật mộ"(chập tối lúc chim về tổ, gà vào chuồng) đặt NGANG lên câu thơ làm cho 24 con chữ trong 4 câu tiền giải cùng nhảy múa tạo nên tuyệt tác để "đời sau đừng ai làm thơ về Hoàng Hạc Lâu nữa mà chuốc lấy hổ thẹn "?!



Có 1 người cảm ơn: tile_kg86
Thảo luận thêm: Về bản dịch của Tản Đà 

Khoi Dinh Bang

Khoi Dinh Bang

Đăng ký: 01/08/2009 20:53
Số bài gửi: 311

Đã được xem 493 lần
Đăng bởi Khoi Dinh Bang vào 12/03/2010 08:52
Nếu nguyên tác của Thôi Hiệu là tuyệt bút thì bản dịch của Tản Đà lâu nay được coi là tuyệt vời ? Tuy nhiên,cái chỗ"còn có để mà bàn"(thảo luận) như chữ"không"(luồng những)trong câu thứ 2,được xem là " thi nhãn"(chữ mắt)thể hiện cái hồn của bài thơ:tâm trạng bâng khuâng,mênh mang.man mác ,buồn hiu hiu da diết ...Tản Đà dịch bằng chữ "trơ" là khá đắt ! Câu 3 "hạc vàng bay đi là thôi không trở lại" mà dịch là "hạc vàng đi mất từ xưa" thì quả là không đạt ?Câu 4 "không du du"(bay lững lờ trên bầu không-trôi mãi mãi)chữ "không" ở đây là "vĩnh viễn"...cũng như câu 5+6 dịch ra tiếng Việt quả thực là rất khó nói hết cái thi trung hữu hoạ,hữu nhạc,hữu hương của nguyên tác ?
 Theo thiển ý của NK thì Cái "gốc"(nguyên nhân,cốt lõi)có lẽ là ở chỗ "thể loại" ?
 Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu là viết theo" Luật thi".Đại thi hào Lý Bạch sở dĩ hư tâm phục thiện như thế chỉ vì chính ông hiểu rõ Luật thi cam khổ;Còn bản dịch của Tản Đà là "lục bát" (thơ dân tộc) dịch Hán ra Việt để Người Việt thưởng thức cái áng thiên cổ kỳ thi này.Cái "vênh",cái "khó" của DỊCH (chuyển ngữ) là ở chỗ này.Thể thất ngôn bát cú:mỗi câu 7 chữ,rồi từng cặp đôi câu theo phép KHỞI-THỪA-CHUYỂN-HỢP (đối nhau chằm chặp ),chữ MẮT (nhỡn tự) đắc địa ở chỗ nào ? với những Ý mới,tứ lạ,thi cách ra sao ? được chuyển dịch sang lục bát :1 câu 6 dịch câu 7,rồi 1 câu 8 dịch câu 7...nếu không gối chữ,trùm ý(gọi 2=2) THÌ ĐỐ AI DỊCH nổi(chữ=chữ,ý=ý lại lột tả được cái HỒN (cái Thần của thi phẩm).Chao ôi,"dịch là phản" như chơi là thế!
 Ở Tản Đà,có lẽ bản dịch Hoàng Hạc Lâu là đạt hơn cả.Sự đáng châm chước của lối dịch thơ kiểu này(luật thi ra lục bát)là không nên cố chấp"chữ đổi chữ" mà lấy Ý hớp HỒN là chính.Do đó 2 câu kết,Tản Đà dịch là "
      Quê hương khuất bóng hoàng hôn
      Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
Xét về ngữ nghĩa,âm điệu (của thơ Việt) thì phải nói là đã đạt mức "tuyệt tác"...ta đọc lên,ngâm nga thấy SƯỚNG hơn cả đọc nguyên tác !?
  Còn về 2 chữ "phương thảo" (cỏ thơm)mà dịch là "cỏ non" là cách nói thông dụng của dân gian đất Việt.
  Dịch ra "Lục bát" là lối dịch "thoát",phải là tay cự phách trong làng thơ như Tản Đà mới có được một bản dịch bất hủ như vậy !



Có 1 người cảm ơn: tile_kg86
Thảo luận thêm: Về tiểu sử Thôi Hiệu 

Khoi Dinh Bang

Khoi Dinh Bang

Đăng ký: 01/08/2009 20:53
Số bài gửi: 311

Đã được xem 478 lần
Đăng bởi Khoi Dinh Bang vào 01/04/2010 08:05
"Hoàng Hạc Lâu" thuộc hàng đệ nhất Luật thi đời Đường.Tác giả của thiên kỳ thi tuyệt hảo này là Thôi Hiệu(?-754)người Biện Châu(nay là huyện Khai Phong,tỉnh Hà Nam),đỗ Tiến Sĩ năm Khai Nguyên 13(725),làm Quan đến chức Tư huân Viên ngoại lang(cỡ Vụ phó ngày nay-hàm ngũ phẩm).Ông bản tính lãng mạn,ham đánh bạc,rượu chè,thích "của lạ"(thay vợ đến 4 lần).Hồi trẻ thơ ông diễm lệ bóng bẩy;đến cuối đời phong thái cốt cách mạnh mẽ rắn rỏi,sáng tạo tân kỳ có thể theo kịp Giang Yêm,Bão Chiếu.Ông khổ vì ngâm vịnh đến trở bệnh xanh xao hốc hác cả người(hết mình vì làm thơ),Bạn ông đùa nói:"không phải Bác bệnh nó đến như vậy,bởi khổ vì ngâm thơ nên gầy mà thôi !
Ở Thôi Hiệu cho ta bài học : sở dĩ con người ta "thành đạt" là do có TÀI,có CHÍ và gặp THỜI ( ở đây là thời Khai Nguyên-Thiên Bảo rất thuận cho trí thức đi thi đỗ Tiến Sĩ,làm Quan và làm Thơ...tha hồ thi thố tài năng phò Vua,chấn hưng đất nước.)



Có 1 người cảm ơn: tile_kg86
Bản dịch của Hà hoàng 

Hà Nam đàn

Đăng ký: 31/01/2010 02:09
Số bài gửi: 3

Đã được xem 469 lần
Đăng bởi Hà Nam đàn vào 04/04/2010 01:04
Bóng hạc vàng xưa không còn nữa
Lầu hạc còn trơ những dấu xưa
Hạc vàng bay mãi đi về nơi nao
Mây trắng vẫn lững lờ giữa tầng không
Bên sông Hán Dương cây ngàn rợp bóng
Bãi Anh Vũ cỏ thơm mát đôi bờ
Hoàng hôn xuống mang đầy nỗi nhớ
Quê hương mờ,khói sóng dục khách xa



Có 1 người cảm ơn: tile_kg86
Thảo luận thêm: về bài dịch của Nguyễn Đôn Phục& Tàn Đà 

Khoi Dinh Bang

Khoi Dinh Bang

Đăng ký: 01/08/2009 20:53
Số bài gửi: 311

Đã được xem 455 lần
Đăng bởi Khoi Dinh Bang vào 02/05/2010 06:53
*1-Về bản dịch của Nguyễn Đôn Phục:Đây là bản dịch Quốc ngữ vào loại sớm nhất(Nam Phong tạp chí 1923),là bàn dịch đọc khá chối tai (rất trúc trắc)nhưng rất công phu,rất già tay(túc Nho);Công phu ở chỗ: theo sát nhạc điệu của nguyên tác,sát cả ở những chỗ sai niêm,thất luật.Nếu xét theo Nhà dịch thuật nổi tiếng đời Thanh là Nghiêm Phục đã nêu ra  tiêu chuẩn về dịch thuật là phải TÍN,ĐẠT,NHÃ...thì bản dịch của Nguyễn Đôn Phục còn ở mức "thô",chưa Đẹp và Sang như nguyên tác.
*2-Bản dịch của Tản Đà : trái lại,bay bướm nhẹ nhàng,văn chương trầm bổng theo cung điệu lục bát(đượm hồn dân tộc )...in ở Tạp chí Ngày Nay số 80,ngày 10-10-1937.
Tuy nhiên,theo nguyên tác: ở Thôi Hiệu,đó là cái không khí mang mang day dứt,nỗi bơ vơ hiu quạnh của thân phận con người lạc lõng giữa trần gian trong buổi hoàng hôn mà thiên đường (Quê hương) thì đã mù mịt lối về ! Cái không khí ấy đã bị Tản Đà thuần hóa trở nên nhu mì mềm mại,nhẹ nhàng trôi chảy trong dòng Ca dao (lục bát). Cái HAY của Tản Đà là ở chỗ ấy,nó vào hồn Người Việt là vì lẽ ấy;Nhưng nó cũng là cái hụt hẫng khi chuyển thể như thế vậy chăng?



Có 1 người cảm ơn: tile_kg86

Trang trong tổng số 8 trang (80 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] ›Trang sau »Trang cuối






RSS © 2004-2013 annonymous