Chia sẻ trên Facebook Trang Thi Viện trên Facebook Chia sẻ trên Google+ Chia sẻ trên Twitter RSS feed
Dùng font cỡ nhỏ Dùng font cỡ vừa Dùng font cỡ lớn

Ba tiêu (Cây chuối)

Thơ » Việt Nam » Nguyễn Trãi » Quốc âm thi tập » Môn hoa mộc


» Hiện một số bài thơ có cùng từ khoá



   Ba tiêu (Cây chuối)
 
Thể thơ: Đường luật biến thể, thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
Từ khoá: cây chuối
Đã được xem 18281 lần
Đăng bởi Vanachi vào 28/07/2005 23:57
Đã sửa 7 lần, lần sửa cuối bởi Vanachi vào 17/02/2011 21:15
11 người thích
10 bài trả lời
Thao tác
 
 
 
Tự bén hơi xuân tốt lại thêm,
Ðầy buồng lạ, màu thâu đêm.
Tình thư một bức phong còn kín,
Gió nơi đâu, gượng mở xem..

 
  


 

Thảo luận thêm: Lời bình của Xuân Diệu

Vanachi

Con chim bạt gió lạc loài kêu thương

Vanachi

Đăng ký: 31/5/2004
Số bài gửi: 23934

Một bài thơ của Nguyễn Trãi: "Ba tiêu"

Trong 254 bài thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, có một bài thơ chỉ 4 câu thôi mà tôi trải qua 24 năm, mới dám tự bảo mình rằng gọi là hiểu. Đó là bài Ba tiêu.

"Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín,
Gió nơi đâu gượng mở xem".

Từ 1956, lúc bắt đầu phát hiện được trở lại Quốc âm thi tập, đọc bài ức Trai tiên sinh viết về cây chuối này, tôi đã rất yêu thích. Tuy nhiên, sức đọc, trình độ của tôi cũng chỉ mới thấy được cái hay của hai câu 3, 4.

Người đời trước viết trên lụa: tàu lá chuối non kia màu xanh ngọc thạch, còn cuộn lại như lụa cuốn, như bức thư quý báu trang nhã viết trên lụa bạch, đó là một bức thư tình e ấp, vậy mời trang phong lưu là gió, hãy mở thư xem... Dẫn trong bài bình luận, hoặc đọc lên trong các cuộc nói chuyện, tôi đều chỉ nhấn mạnh vào hai câu dưới, coi hai câu trên hầu như là không có. Bởi theo tôi nhận thấy, hai câu dưới có hình tượng sáng tạo hơn cả, đập mạnh vào tâm trí hơn cả. Và bởi, tôi không hiểu hai câu trên, coi là những câu thơ thường. Mà thường tình, người ta không hiểu một điều gì, thì cứ lờ đi, là tiện nhất.

Câu thứ hai: Đầy buồng lạ mầu thâu đêm, ai có ngờ lại là câu khó hơn cả, mà cũng "diệu" hơn cả. Bản Trần Văn Giáp phiên âm là mầu và chú thích: - "Cứ theo chữ Nôm viết ở nguyên bản, cho nên phiên âm là Mầu, nhưng đáng lẽ là mùi mới đúng. Mùi thâu đêm là mùi hương suốt đêm, chú như vậy, thì "buồng lạ" tức là buồng chuối chín thơm ngào ngạt. Bản Đào Duy Anh chú: - "Buồng lạ": chỉ buồng chuối, so với các quả cây khác thì cũng lạ. Mầu thâu đêm: chuối chín thơm ngát suốt cả đêm". Hai lời chú thích đều hiểu buồng là buồng chuối. Và tôi cũng hiểu như thế, chứ không có cách nào khác.

Tuy nhiên, những năm gần đây, tôi suy nghĩ lại, và bỗng nhận thấy một điều, nhưng tôi thấy không tiện nói ra. Vì không tiện nói ra, cho nên tôi không dám dây dưa đưa dẫn hai câu đầu. Bởi, nếu giới thiệu cả 4 câu, thì tôi bắt buộc phải góp ý kiến rằng: đây là hai bài thơ chồng lên nhau, chứ không phải một bài, bởi hai câu đầu nói tới "buồng lạ", buồng chuối, hai câu sau thì nói tới lá chuối non. Mà khi cây chuối đã trổ ra buồng, thậm chí buồng chuối chín, thì nó không còn có thể ra lá non, thậm chí lá non cuốn lại, được nữa. Như vậy phải là hai cây chuối khác nhau ở trong bài thơ, như vậy là hai bài thơ chắp vào nhau trong 4 câu, chứ không phải một bài tứ tuyệt, nhất quán, nguyên khôi. Như vậy thì ức Trai làm thơ như thế hay sao? Và tôi không dám "phát hiện" sự này, bởi tôi thấy sự này vượt quá sức suy nghĩ, quá khả năng hiểu của tôi, cho nên tôi đã không dẫn, không nói hết về hai câu thơ trên.

Đến hôm nay, tôi rất cảm ơn người bạn của tôi, vắng nhau mấy năm, mới đến chơi nhà tôi, và nhân trò chuyện về thơ Nguyễn Trãi, anh ấy bảo với tôi: Buồng chuối đâu. Anh lại mách cho tôi: Trong thơ chữ Hán của ức Trai, có bài Lãnh noãn tịch, nghĩa là "Chiếu lạnh ấm" (được in trong phần "tồn nghi" của quyển Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, Nhà xuất bản Văn hóa, 1962, anh không tán thành quyển Nguyễn Trãi toàn tập in lần thứ II đã bỏ hẳn bài này), bài thơ nói về chiếu, về nệm, có hai câu 3, 4 (dịch nghĩa): Lông mềm, nệm êm, mùi thơm lọt vào xương - Da nhuyễn chiếu lạnh, hơi mát ngấm vào da thịt, tác giả của những câu này có chí khí anh hùng, có tài năng kinh bang tế thế, có tâm huyết, và còn có xương, có thịt, có da, có một sự xúc cảm rất da thịt, biết hưởng rất tinh vi bằng cái thân thể của mình, mùa đông khi nằm trên một tấm nệm lông êm thì "như hương thấm tận vô xương tủy", mùa hè chỉ lăn mình trên một chiếc chiếu cói mát rượi, thì khoan khoái như tắm trong hồ ngọc ở cung tiên, sau khi câu 5 của bài thơ đã đến nói "Viện trúc ngày dài khi nắng đã lui", thì tiếp đến câu 6:

"Hồng lâu dạ vĩnh giác xuân tư"

nghĩa là: "Lầu hồng đêm thâu cảm thấy có một mùa xuân riêng mình", tức là thơ chữ Hán cùng với một tứ với thơ chữ nôm "Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm" đó.

Anh bạn tôi mách cho tôi như vậy, thì tôi bỗng "ồ" lên một tiếng và thấy mình bừng sáng hiểu vào sự huyền diệu của cả bài thơ. Tôi không cần phải "phát hiện" hai bài thơ nào mâu thuẫn nhau hết, mà đây chính là một bài thơ nguyên khôi, nhất quán, của Nguyễn Trãi làm, tại vì tôi chưa hiểu nổi, nên mới thắc mắc. Trước hết, trong câu mở đầu:

"Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm".

ta hẵng để ý: tại sao Nguyễn Trãi không viết "lại tốt thêm"? Lại tốt thêm thì có vẻ dung tục, không đủ trân trọng đối với chủ từ của câu chẳng qua theo đà, theo thế, theo thời, mà thêm tốt, còn "tốt lại thêm" tức là: Vốn cái tốt đã là bản chất rồi. Nay từ lúc bén hơi xuân thì tốt thêm. Sau khi tôi hiểu được toàn diện, đúng đắn rồi, thì hóa ra cái thần của bài thơ không ở hai câu 3, 4, một hình tượng, mà ở câu 2, một xúc cảm:

"Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm"

Đầy phòng, đầy buồng khuê, là một sự "lạ", mầu đây, theo ý tôi, là nhiệm mầu, mầu nhiệm thâu đêm, đồng thời và cũng cần hiểu mầu như ở trong "đất mầu". Ôi! Nếu là thơ ức Trai nói về sự rung động đầu tiên của giai nhân vào buổi đương thời thì việc ấy có giảm gì uy tín của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi? Bao nhiêu nhà thơ lớn trước Nguyễn Trãi ở á Đông, ở trên thế giới đã nói và nói một cách trang nhã, sao lại muốn rằng Nguyễn Trãi đừng nói, dù là nói một cách trang nhã? Sự thật, là Nguyễn Trãi đã nói rồi, câu thơ chữ Hãn dạ vĩnh giác xuân tư, "đêm thâu cảm thấy một xuân riêng" bênh vực cho câu thơ chữ nôm "đầy buồng lạ mầu thâu đêm", và chữ "lạ" với chữ "mầu" làm cho câu thơ chữ Nôm còn dào dạt ngạt ngào hơn câu thơ chữ Hán, đến nỗi đầy cả một buồng. Hơn năm trăm năm sau, hàng cháu chắt của nhà thơ ức Trai là nhà thơ Hàn Mặc Tử (1912 - 1940) cũng có một tứ thơ gần với ức Trai, và đã gộp cả chữ "lạ" trong thơ chữ Nôm và chữ "xuân" trong thơ chữ Hán của ức Trai: "Chàng ơi, chàng ơi, sự lạ đêm qua - Mùa xuân tới, mà không ai biết cả".

Nếu hiểu buồng là buồng chuối như tôi đã hiểu, và như hai nhà phiên âm Trần Văn Giáp và Đào Duy Anh đã hiểu, thì bài thơ lại tách ra làm hai bài mâu thuẫn nhau một cách vô lý - điều mà nhà thơ ức Trai quyết không làm.

Và khi đã vào được chữ "diệu" của bài thơ, khi đã hiểu đây là mùa xuân riêng xuất hiện, thì hai câu cuối đến dính liền một cách thoải mái vào hai câu trên. Hiểu là một ngôi thứ ba, một "nhà văn" nào đó nói hộ tâm sự cho giai nhân, và mời hộ gió mở bức thư lá chuối non thì cũng được, tuy nhiên, tưởng tượng một người thứ ba ở bên ngoài đến làm mối lái trung gian mời hộ gió mở thư tình của lá, thì vai trò của người mời hộ này cũng khá vô duyên, đã là thư tình thì chính người viết, người cuộn người gửi lấy bằng cách này hay cách khác cho đối tượng của mình đọc, cho nên tôi muốn hiểu cả bài tứ tuyệt là một ngôi thứ nhất, phía sau cây ba tiêu là một giai nhân tự nói lấy cho mình, đầy phòng ngào ngạt thâu đêm, chẳng lẽ lại người nào cũng ngoài phòng nói điều ấy, phải là người ở trong phòng tự nói:

Tự bén hơi xuân, tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín.

bức thư tình của lá: em còn e ấp cuộn lại, còn kín, một cái ghen tuông phóng nhụy, ngôi thứ hai là "gió", là đối tượng: anh, người mà ta mong mỏi đang ở nơi đâu? Gượng đây không phải là gượng gạo, mà gượng nhẹ, khẽ khàng:

Gió nơi đâu gượng mở xem

Từ lúc Quốc âm thi tập được phát hiện lại (1956) đến nay, một bài thơ như Ba tiêu của Nguyễn Trãi đã trải 24 năm mới chịu gửi cái bí mật thân tình mình cho người bạn đọc.

Xuân Diệu
(trích "Kỷ niệm sáu trăm năm ngày sinh Nguyễn Trãi")

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Có 1 người cảm ơn: luoi

Thảo luận thêm: Muốn hỏi chút..

Hoàng Minh Phương

Hoàng Minh Phương

Đăng ký: 31/1/2010
Số bài gửi: 1

bài này có phải là phân tích ko nhỉ???????????
mình mún tìm 1 bài thuyết minh nhưng lạ ko có...........

Thảo luận thêm: Ý kiến về bài bình

muanhietdoi2506

Đăng ký: 27/2/2010
Số bài gửi: 1

Tôi thấy bài phân tích của ban quá sất. tại sao lại sặc mùi phản bát khi bình một bài thơ hay thế/

pm dum nha

Thảo luận thêm: 3

clover_9114

Đăng ký: 6/8/2009
Số bài gửi: 1

nhầm rồi bạn ơi!đây là bài bình của xuân diệu mà!!!!!ko phải của vanachi đâu!mà tôi thấy bài này xuân diệu bình hay đấy chứ!rất có ý nghĩa và cảm xúc!đọc xong tôi vỡ ra nhiều điều!!!

Thảo luận thêm: nguyễn trãi

quynhsp

Đăng ký: 11/9/2010
Số bài gửi: 1

nguyễn trãi rất  tài hoa, đọc bình ngô đại cáo mói thấy tuyệt diệu

Thảo luận thêm: "Cây chuối"

Arsene_Lupin

Đăng ký: 23/6/2009
Số bài gửi: 4

đọc cả BNĐC, cả những bài thơ Nôm đường luật như bài Ba tiêu này mới thấy được những khía cạnh khác nhau trong tâm hôn Ức Trai...

Thảo luận thêm: Chữ Nôm

Vanachi

Con chim bạt gió lạc loài kêu thương

Vanachi

Đăng ký: 31/5/2004
Số bài gửi: 23934

Chữ Nôm (cần font chữ Nôm để hiển thị đúng):
芭蕭
自橅唏春卒吏添,
苔蓬邏牟偷店。
情書蔑幅封群謹,
陿唏兜強闦娂。

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.

Thảo luận thêm: 'gượng'

medela11

Đăng ký: 17/9/2010
Số bài gửi: 1

Đọc bài bình của Xuân Diệu tôi vỡ ra nhiều điều. Xuân Diệu thì 24 năm, còn tôi đã 10 năm từ khi học về bài thơ này, và bỗng dưng hôm nay tôi lại tìm về bài thơ này. Chứng tỏ bài thơ ngắn gọn này có sức theo đuổi tâm hồn con người ta.
Tôi lưu tâm tới chữ 'gượng' ở câu cuối. Nó là một chữ 'gượng' nhưng nó nói lên cho cả hai đối tượng:
1. Gió - Gió hãy trân trọng và nhẹ nhàng khi 'mở' 'bức thư' còn phong kín.
2. Cuộn lá chuối phong kín - sự e ấp, mong manh, dịu dàng còn gói nhẹ. (chứ không lồ lộ ra một cách vô duyên)
Một tâm sự được gói ghém e ấp. Và gió hãy khám phá điều đó. Nhưng cách miêu tả và lời thơ của bài này thì làm tôi thấy không một chút nào của sự thô thiển hay trần tục. Vì bài thơ là ngôn ngữ ẩn dụ, cho nên tôi đã liên tượng hình ảnh về lá chuối, gió, bức thư phong kín tới những khía cạnh của cuộc sống. Và thấy rằng, bài thơ này rất tinh tế.

Thảo luận thêm: bàn về chữ 蓬

ruanyong

Đăng ký: 24/9/2010
Số bài gửi: 1

Chữ buồng 蓬 bộ Thảo mà Xuân Diệu vẫn hiều là buồng ngủ được sao? Hay là các cụ ngày xưa viết chữ Nôm tùy tiện, không theo quy luật gì, các bạn nhỉ?

Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Ta có thêm ngày nữa để yêu thương.

Thảo luận thêm: bàn về chữ 蓬

Tuấn Khỉ

Tuấn Khỉ

Đăng ký: 27/8/2010
Số bài gửi: 13010

Ta có thể tham khảo ý kiến của TS Nguyễn Xuân Diện, Viện Hán Nôm, khi bàn về chữ "canh" trong câu "Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương", nguyên văn như sau:

Khi viết chữ Nôm, các cụ ta xưa không quy định từ này, âm này thì nhất thiết phải viết bằng chữ Nôm này. Một âm/một từ khi đọc thì có thể có nhiều chữ để ghi vào giấy, miễn sao ghi đúng âm là được.

Ví dụ khi ghi chữ "canh" trong "Canh gà Thọ Xương" thì có thể ghi bằng bất cứ chữ "canh" nào trong 15 chữ canh cũng được.(15 chữ "canh": 更 畊 秔 粇 耕 庚 埄 埂 浭 粳 赓 賡 鶊 鹒 羹).

Nhưng nếu là văn bản chữ HÁN, thì phải ghi đúng chữ với đúng nghĩa của nó.


Nguồn: trả lời comment của Tễu (Nguyễn Xuân Diện), trong bài viết sau

http://xuandienhannom.blogspot.de/2012/10/a-tim-thay-cau-thocanh-ga-tho-xuong.html






© 2004-2014 Vanachi