Văn tế có nhiều loại, như văn tế bốn chữ, năm chữ (tứ tự, ngũ tự), phú cổ thể (ví dụ bài văn tế con gái của Tào Thực) và phú cận thể (phú luật Đường), phú cận thể thì thường là độc vận (gieo một vần), đảm thêm một số cụm từ có tính "nghi thức" như "Hỡi ôi" (mở đầu phần Tán), "Nhớ linh xưa" (mở đầu phần Thán), "Khá thương thay" (mở đầu phần Ai), "Hỡi ôi thương thay, Có linh xin hưởng" (kết thúc). Kết cấu hình thức của phú luật Đường gồm Lung khởi (mở đầu), Biện nguyên (giải thích ý nghĩa, nguồn gốc đầu đề), Thích thực (tả thực, diễn giải đầu để), Phu diễn (liên hệ, nói rộng ra ngoài đầu đề), Nghị luận (bình luận nghĩa của đầu đề) và Kết, nhưng nếu hiểu văn tế cũng gồm các phần Lung khởi, Thích thực... thì sai. Sở dĩ người ta gọi văn tế là văn tế vì muốn nhấn mạnh về chức năng nội dung chứ không phải về hình thức. Kết.cấu chức nội dung của một bài văn tế thể phú luật Đường hoàn chỉnh đó đó gồm ba phần: phần Tán (bày tỏ sự nhận định, thường là tán dương, ca ngợi người được tế), phần Thán (than thở, nuối tiếc về tài năng, đức độ, công lao... của người được tế) và phàn Ai (bày tỏ lòng đau đớn, mà thương xót, sự kính trọng... với người được tế). Nghĩa là sáu phần Lung khởi - Biện nguyên - Tính thực - Phu diễn - Nghị luận - Kết trong kết cấu hình thức của một bài phú luật Đường đã chuyển hóa thành ba phần Tán, Thán và Ai trong kết cấu chức năng - nội dung của một bài văn.

Cao Tự Thanh
(trích trong bài "Từ sách giáo khoa đến chuyện dạy văn")