Chia sẻ trên Facebook Trang Thi Viện trên Facebook Chia sẻ trên Google+ Chia sẻ trên Twitter RSS feed
Dùng font cỡ nhỏ Dùng font cỡ vừa Dùng font cỡ lớn

Nhớ

Thơ » Việt Nam » Hồng Nguyên


» Hiện một số bài thơ có cùng từ khoá



   Nhớ
 
Thể thơ: Thơ tự do, thời kỳ: Hiện đại
Từ khoá: nhớ
Đã được xem 14903 lần
Đăng bởi Vanachi vào 29/03/2007 18:09
17 người thích
2 bài trả lời
Thao tác
 
 
 
Lũ chúng tôi
Bọn người tứ xứ,
Gặp nhau hồi chưa biết chữ
Quen nhau từ buổi "Một hai"
Súng bắn chưa quen,
Quân sự mươi bài
Lòng vẫn cười vui kháng chiến
Lột sắt đường tàu,
Rèn thêm gao kiếm,
Áo vải chân không,
Đi lùng giặc đánh.
Ba năm rồi gửi lại quê hương.

Mái lều gianh,
Tiếng mõ đêm trường,
Luống cày đất đỏ
Ít nhiều người vợ trẻ
Mòn chân bên cối gạo canh khuya
Chúng tôi đi
Nắng mưa sờn mép ba lô,
Tháng năm bạn cùng thôn xóm.
Nghỉ lại lưng đèo
Nằm trên dốc nắng.
Kì hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng.
Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa.
- Đằng nớ vợ chưa?
- Đằng nớ?
- Tớ còn chờ độc lập
Cả lũ cười vang bên ruộng bắp,
Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu.
Chúng tôi đi mang cuộc đời lưu động,
Qua nhiều nơi không nhớ hết tên làng.
Đã nghỉ lại rất nhiều nhà dân chúng
Tôi nhớ bờ tre gió lộng
Làng xuôi xóm ngược mái rạ như nhau
Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau.
Có tiếng gà gáy xóm,
Có "Khai hội, yêu cầu, chất vấn!"
Có mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa.
Trăng lên tập hợp hát om nhà.

Tôi nhớ
Giường kê cánh cửa,
Bếp lửa khoai vùi
Đồng chí nứ vui vui,
Đồng chí nứ dạy tôi dăm tối chữ,
Đồng chí mô nhớ nữa,
Kể chuyện Bình - Trị - Thiên,
Cho bầy tôi nghe ví,
Bếp lửa rung rung đôi vai đồng chí
- Thưa trong nớ hiện chừ vô cùng gian khổ,
Đồng bào ta phải kháng chiến ra ri.

Đêm đó chúng tôi đi
Nòng súng nghiêng nghiêng,
Đường mòn thấp thoáng...
Trong điếm nhỏ,
Mươi người trai tráng,
Sờ chuôi lựu đạn.
Ngồi thổi nùn rơm
Thức vừa rạng sáng.
Nhìn trời sương nhẩm bước chúng tôi đi
Chúng tôi đi nhớ nhất câu ni:
Dân chúng cầm tay lắc lắc:
"Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc!"

(1948)

Nguồn: http://www.cinet.gov.vn/v...a/20/tho/N/hongnguyen.htm
 
  


 

Thảo luận thêm: Lời bình của nhà thơ Trịnh Thanh Sơn

Vanachi

Con chim bạt gió lạc loài kêu thương

Vanachi

Đăng ký: 31/5/2004
Số bài gửi: 23931

Xuất hiện vào thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, gần như cùng lúc với "Đèo cả" của Hữu Loan, "Tình sông núi" của Trần Mai Ninh, "Tây Tiến" của Quang Dũng, "Bên kia sông Đuống" của Hoàng Cầm, "Nhớ" của Hồng Nguyên đã làm nên bộ "ngũ tư bất tử" của thơ chống Pháp nói riêng và trong lịch sử thi đàn Việt Nam nói chung.


Ngay từ khi mới xuất hiện, Nhớ của Hồng Nguyên đã trở thành một hiện tượng, một sự kiện, được lan truyền rộng rãi và bám vào trí nhớ của nhiều người, nhiều lớp người dọc theo năm tháng.

Vì sao bài thơ lại có sức ám ảnh và vang động như vậy trong lòng người đọc? Lý giải điều đó tưởng không dễ dàng, song không phải là không làm được, nhất là sau hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, kể từ ngày bài thơ ra đời. (1948?)

Bài thơ có tất cả 62 dòng thơ, dòng dài nhất có 10 chữ (Có mẹ già bắt rận cho những đứa con xa), dòng ít nhất có hai chữ (- Đằng nớ? ) và được chia làm ba khổ thơ mạch lạc, khúc triết, có mở có khép và có phát triển ở khoảng giữa thân bài. Cả bài thơ giống như "kịch bản phân cảnh" của một bộ phim tài liệu, nói về một cuộc hành quân chiến đấu của những người lính Vệ quốc đoàn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Vậy trong đoàn quân ấy có bao nhiêu người, họ là những ai? Vào đầu bài thơ, nhà thơ không ngần ngại, giới thiệu luôn:

   Lũ chúng tôi
   Bọn người tứ xứ
   Gặp nhau hồi chưa biết chữ
   Quen nhau từ buổi "một, hai"
   Súng bắn chưa quen
   Quân sư mươi bài

Rồi nhà thơ hồn nhiên hạ ngay một lời bình về tinh thần đoàn quân ấy:

   Lòng vẫn cười vui kháng chiến

Thế đấy, chúng tôi tự giới thiệu về chúng tôi như thế đấy! Số lượng của chúng tôi không được công bố cụ thể (có lẽ vì bí mật quân sự), nhưng chúng tôi khá đông đảo (lũ, bọn) và trình độ văn hóa còn thấp (chưa biết chữ), trình độ quân sự cũng chưa cao (súng bắn chưa quen), song chúng tôi có nhiệt tình cách mạng, có ý chí chiến đấu và rất lạc quan (lòng vẫn cười vui kháng chiến).

Bằng giọng tự trào đầy hóm hỉnh, nhà thơ đã tự giới thiệu về đồng đội của mình vừa chuẩn xác, vừa chân thành và đáng yêu biết bao. Những con người ấy vừa từ luống cày bước ra, từ sau lũy tre làng bước tới cũng hệt như những người chiến sĩ trong thơ Chính Hữu, từ nước mặn đồng chua, từ đất đồi cày lên sỏi đá, tụ tập về đây theo một tiếng gọi thiêng liêng và trở thành đồng đội. Ngoài tinh thần lạc quan và ý chí chiến đấu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, họ hầu như chả có trang bị, vũ khí gì đáng kể:

   Lột sắt đường tàu
   Rèn thêm dao kiếm
   Áo vải chân không
   Đi lùng giặc đánh...

Tôi không có cứ liệu trong tay để chứng minh bài thơ được viết vào năm 1948, nhưng tôi có câu thơ của Hồng Nguyên nói rõ điều đó:

   Ba năm rồi gửi lại quê hương

Nếu tính từ mùa Thu Tháng Tám 1945, ba năm rồi gửi lại quê hương, ắt phải là năm 1948, mà cũng mùa thu nữa kia. Sao vậy? Bởi vì đến những ngày kỷ niệm cách mạng, các nhà thơ mới hay làm thơ! Thơ để in báo, thơ để tuyên truyền, cần phải trúng dịp, chứ sao!

Trong cuộc hành quân liên miên của đoàn quân ấy, thỉnh thoảng trong tâm trí mỗi người, hình ảnh quê là cũng hiện lên trong nỗi nhớ:

   Mái lều gianh
   Tiếng mõ đêm trường
   Luống cày đất đỏ
   Ít nhiều người vợ trẻ
   Mòn chân bên cối gạo canh khuya

Nói theo ngôn ngữ điện ảnh, đây là một cảnh phim "phục hiện" có sức khái quát và ám ảnh rất cao. Cú máy đặc tả gót chân người vợ trẻ:

   Mòn chân bên cối gạo canh khuya

Cái tình thương nhớ thiết tha đau đáu chỉ diễn tả bằng hình, một khuôn hình đặc tả, tài vậy thay! Và đây là phim câm, phim không lời!

Cuộc hành quân vẫn tiếp tục, với những gian khổ, nhọc nhằn, nhưng cũng đầy lạc quan phấn khởi, có khi còn thơ mộng nữa, nếu như được nhìn thấy "mấy o thôn nữ cuối nương dâu", nếu như, vào lúc nghỉ ở lưng đèo, những người lính trẻ nói chuyện bù khú về vợ con và cười sảng khoái, cười đến vang ruộng bắp:

   Chúng tôi đi
   Nắng mưa sờn mép ba lô
   Tháng năm bạn cùng thôn xóm
   Nghỉ lại lưng đèo
   Nằm trên dốc nắng
   Kỳ hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng
   Quờ chán tìm hơi ấm đêm mưa
   - Đằng nớ vợ chưa?
   - Đằng nớ?
   - Tớ còn chờ độc lập
   Cả lũ cười vang bên ruộng bắp
   Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu...

Sang đoạn thơ thứ hai, bài thơ mở ra với những  câu thơ dài rộng, thể hiện sự tiếp xúc và lớn vượt của đoàn quân với nhân dân và đất nước. Tầm mắt mở rộng hơn, tâm hồn mở rộng hơn và nhờ thế lòng lạc quan, yêu đời cũng càng thêm phơi phới. Bao nhiêu gặp gỡ, tiếp xúc, bao nhiêu cảnh sắc, nếp sinh hoạt ở từng miền quê lũ lượt ùa vào thơ như những cánh phim toàn rộng. Lời thơ thanh thoát, thảnh thơi, hơi thở điệp trùng, cuồn cuộn:

   Chúng tôi đi mang cuộc đời lưu động
   Qua nhiều nơi không nhớ hết tên làng
  ... Tôi nhớ bờ tre gió lộng
   Làng xuôi xóm ngược mái rạ như nhau

Tình quân dân cá nước giản dị mà vô cùng thắm thiết, gần gũi:

  ... Có tiếng gà gáy sớm
   Có "khai hội, yêu cầu, chất vấn"
   Có mẹ già bắt rận cho những đứa con xa...
   Trăng lên tập họp hát om nhà.

Bao nhiêu kỷ niệm về những làng quê, về những con người và những tấm lòng thơm thảo của những miền đất lạ đã in đậm trong tâm hồn người chiến sĩ. Những kỷ niệm ấy sẽ vĩnh viễn không phai mờ theo năm tháng, bởi vì nó cụ thể, nó hiển hiện trước mắt ta như sờ thấy được:

   Tôi nhớ
   Giường kê cánh cửa
   Bếp lửa khoai vùi
   Đồng chí nứ vui vui
   Đồng chí nứ dạy tôi dăm tối chữ...

Tuy nhiên, đường hành quân còn dài, sau những phút giây nghỉ ngơi, đoàn quân lại lên đường, lặng lẽ vào một đêm trăng lu, "nòng súng nghiêng nghiêng, đường mòn thấp thoáng". Các anh ra đi vì nhiệm vụ nặng nề mà đất nước giao cho, nhưng tấm lòng còn ở lại:

   Chúng tôi đi nhớ nhất câu ni
   Dân chúng cầm tay lắc lắc:
   "Độc lập, nhớ rẽ viền chơi ví chắc!"

Câu thơ ấy chợt gợi nhớ đến câu thơ rất hay, rất đồng vọng của Hoàng Trung Thông:

   Các anh đi đến khi nào trở lại
   Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong...

(Bộ đội về làng)

Và một cộng hưởng của thơ Hữu Loan:

   Một làng xa nho nhỏ
   Đẹp như nơi hẹn hò
   Có đôi lòng gắn bó
   Những lời chưa nói ra...

(Những làng đi qua)

Cái mô típ: Những người lính hành quân - Những xóm làng đi qua - Những kỷ niêm thôn làng - Hẹn ngày trở lại, ta gặp rất nhiều trong thơ kháng chiến chống Pháp thời kỳ đầu.

Tuy nhiên, cùng mô típ ấy, ở mỗi nhà thơ thể hiện mỗi khác và có những thành công khác nhau. Với Nhớ của Hồng Nguyên, bằng việc mạnh dạn đưa ồ ạt tiếng địa phương và khẩu ngữ vào thơ, bằng việc chuyển hẳn thơ từ giọng ngâm sang giọng nói, ông đã góp phần làm cho thơ Việt chuyển hẳn sang một nội hàm và thi pháp mới.

Chính vì vậy, bài thơ Nhớ của Hồng Nguyên mãi mãi là viên ngọc sáng trong nền thi ca Việt Nam hiện đại. Điều thú vị nhất là, chỉ cần đem phân cảnh rồi quay phim, chúng ta sẽ có một bộ phim tên là Nhớ. Tôi tin là rất hay!

(báo Văn Nghệ)

Nguồn: http://www.nhandan.com.vn...sub=139&article=21564
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.

Thảo luận thêm: Tiểu sử Hồng Nguyên

hang1012

hang1012

Đăng ký: 1/1/2010
Số bài gửi: 13

xem ra cũng không nhiêu thông tin vè tác giả này, em xin post thêm để mọi người biêt
Nhà thơ Hồng Nguyên tên khai sinh là Nguyễn Văn Vượng, sinh năm 1924 tại xã Đông Thọ, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc từ trước Cách mạng Tháng Tám, là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn hóa Cứu quốc Liên khu IV, từng viết bài cho các báo Dân mới, Sáng tạo, Thép mới…

Năm 1951,  HồngNguyên lâm trọng bệnh và mất tại quê nhà khi ông đang là Trưởng ty Thông tin Tuyên truyền tỉnh Thanh Hóa.

Hồng Nguyên sáng tác ở nhiều thể loại khác nhau, trong đó tiêu biểu là thơ và tiểu luận văn học.

Trong các tác phẩm Hồng Nguyên để lại (Hồn thơ Việt Nam; Đời anh nông dân vô Nam; Nhớ; Những khẩu hiệu trong đêm), bài thơ “Nhớ” là một bài thơ tiêu biểu trong các bài thơ viết về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. “Nhớ” cũng là bài thơ ghi dấu ấn phong cách sáng tác thơ Hồng Nguyên.

Tôi nhặt hoàng hôn
Cất vào đêm tối
Tôi nhặt nỗi buồn
Cất vào hồn tôi
Có 2 người cảm ơn: Vanachi, lucky luck





© 2004-2014 Vanachi