Dùng font cỡ nhỏ Dùng font cỡ vừa Dùng font cỡ lớn
RSS feed Chia sẻ trên Facebook

Hồ Xuân Hương - 胡春香

Thơ » Việt Nam » Nguyễn


Hồ Xuân Hương
» Hiện danh sách 41 người yêu thích
» Hiện tiểu sử tác giả
1. Độ Hoa Phong
1
4. Nhập An Bang
1
2. Hải ốc trù
1
5. Thuỷ vân hương
1
3. Nhãn phóng thanh
1
6. Trạo ca thanh
1
1. Ðông Sơn thừa lương
2
6. Tháp sơn hoài cổ
3
2. Long tỉnh quá trạc
2
7. Thạch phố quan ngư
1
3. Phật động thâm u
1
8. Bộ Khánh Minh tự cảm hứng
1
4. Ðăng Đông Sơn tự kiến ký kỳ 1
1
9. Cốc tự tham thiền
1
5. Ðăng Đông Sơn tự kiến ký kỳ 2
1
 
1. Ðề Trấn Quốc tự
2
6. Tái ngoại văn châm
1
2. Bán chẩm thư hoài
1
7. Thu nhật tức sự
1
3. Cố kinh thu nhật
1
8. Thu vũ
1
4. Giang Nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân
1
9. Vịnh thạch phu phụ
1
5. Quá Khinh Dao từ hoài cổ
2
 
1. Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ
2
17. Ký Sơn Nam Thượng trấn Hiệp trấn Trần Hầu kỳ 2
2. Thiếu niên du điệu
1
18. Hoạ Sơn Phủ chi tác
3. Xuân đình lan điệu
1
19. Tốn Phong đắc mộng chí dữ ngã khán nhân thuật ngâm, tịnh ký
4. Thu dạ hữu hoài
1
20. Hoạ Tốn Phong nguyên vận
5. Thu phong ca
1
21. Thệ viết hữu cảm
6. Nguyệt dạ ca kỳ 1
6
22. Tự thán kỳ 1
7. Nguyệt dạ ca kỳ 2
2
23. Tự thán kỳ 2
8. Ngư ông khúc hành
1
24. Lưu biệt thời tại An Quảng, An Hưng ngụ thứ
9. Cảm cựu kiêm trình cần Chánh học sĩ Nguyễn Hầu 25. Bạch Đằng giang tặng biệt
10. Thu nguyệt hữu ức Mai Sơn Phủ ký 26. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 1
11. Cảm cựu tống tân xuân chi tác kỳ 1 27. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 2
12. Cảm cựu tống tân xuân chi tác kỳ 2 28. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 5
3
13. Ngụ ý Tốn Phong ký nhị thủ kỳ 1 29. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 6
3
14. Ngụ ý Tốn Phong ký nhị thủ kỳ 2 30. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 7
3
15. Tặng Tốn Phong tử 31. Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 8
2
16. Ký Sơn Nam Thượng trấn Hiệp trấn Trần Hầu kỳ 1 32. Xuân Hương tặng hiệp quận
1. Đàn gảy 45. Miếu Sầm thái thú
1
2. Đá ông bà chồng 46. Núi Ba Đèo
3. Đá chẹt thi 47. Núi Kẽm Trống
4. Đánh đu
2
48. Ngại ngùng
5. Đánh cờ
5
49. Nguyệt hỡi đê mê
6. Đề nhị mỹ nhân đồ 50. Nhĩ Hà tức cảnh
7. Đọc cho Chiêu Hổ hoạ 51. Nước Đằng
8. Đồng tiền hoẻn 52. Phiếm chu ngoạn nguyệt (Giong thuyền chơi trăng)
9. Đi đái bùn nẩy 53. Quan Hậu sợ vợ
10. Đưa đò 54. Quá Nghệ An hoài giai nhân, hựu thể
11. Ốc nhồi
2
55. Quán Sứ tự
12. Bánh trôi
1
56. Quả mít
2
13. Bùn bắn lên đồ 57. Sài Sơn thiên thị (Chợ trời núi Thầy)
14. Canh khuya 58. Sư hoạnh dâm
2
15. Cái giếng 59. Tát nước
16. Cái quạt 60. Tình có theo ai
17. Cảnh thu 61. Tặng tình nhân
18. Chùa Hương Tích 62. Tức sự
19. Chùa Sài Sơn 63. Thân phận người đàn bà
20. Chế sư 64. Thị Đểu thi
21. Chi chi chuyện ấy 65. Thơ tự tình
4
22. Chơi hoa
1
66. Thương
23. Chơi Khán Đài
1
67. Thương ôi phận gái
24. Con cua 68. Thương thay phận gái
25. Dữ Phạm tế tửu xướng hoạ, kỳ nhị 69. Tiễn người làm thơ
26. Dệt cửi đêm 70. Trào tăng
27. Du cổ tự 71. Trách Chiêu Hổ 2
28. Duyên kỳ ngộ 72. Trúc Bạch hồ
1
29. Già kén kẹn hom 73. Vô âm nữ
30. Hang Cắc Cớ
1
74. Vấn nguyệt
31. Hàng ư Thanh (Quán hàng ở xứ Thanh) 75. Vọng Tây Hồ hoài hữu
32. Hạ nhật tầm phu (Ngày hè tìm chồng) 76. Vịnh ông cắng đánh nhau
33. Hỏi cô hàng sách 77. Vịnh đời người
34. Hỏi trăng bài 1 78. Vịnh bách chu - tức sương nữ
35. Hữu cảm 79. Vịnh cái quạt
36. Ký tao nương Mộng Lan (Gửi nữ sĩ Mộng Lan) 80. Vịnh chung
37. Khóc chồng làm thuốc 81. Vịnh dạy con trẻ
38. Khóc Tổng Cóc 82. Vịnh Hằng Nga
39. Không chồng mà chửa 83. Vịnh hoa cúc
40. Khấp Vĩnh Tường quan 84. Vịnh nằm ngủ
4
41. Lấy chồng chung
1
85. Vịnh nhàn cư
42. Lỡm học trò 86. Vịnh ni sư
43. Mời ăn trầu
1
87. Vịnh Thăng Long hoài cổ
44. Mời khách ăn trầu 88. Vịnh xuyên cổ (Vịnh trống thủng)


 

Phiếm luận về thơ Hồ Xuân Hương

Vanachi

Con chim bạt gió lạc loài kêu thương

Vanachi

Đăng ký: 31/5/2004
Số bài: 24448

Tác giả: Bắc Giang


Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây cho chị dạy làm thơ

Tôi không phải là thi sĩ, cũng chẳng phải là ..nhà thơ, phòng thơ, hay building thơ gì cả nhưng cứ mỗi lần đọc hai câu trên là...tức lộn ruột, huyếp áp lên hừng hực. Ðấy là tôi đang sống ở một xã hội văn minh của thế kỷ thứ hai mươi mốt với quan niệm sống thật phóng khoáng, cởi mở, nam nữ bình quyền, nếu không muốn nói trọng nữ, khinh nam. Ðiều làm tôi khó chịu nhất là thái độ ngạo mạn, trịch thượng của tác giả khi dùng chữ "chị" trong thơ văn của mình, nghe nó ..tức anh ách làm sao ấy! Tôi đã được đọc rất nhiều thơ từ cổ chí kim, từ đông sang tây mà chưa hề thấy bất cứ một tác giả nào dám...ngông cuồng như bà Hồ Xuân Hương. Thử tưởngtượng nếu bà Ðoàn thị Ðiểm hay bà Huyện Thanh Quan cũng xưng CHỊ thì còn gì là thể thống, khuôn phép nữa? Ngược lại giòng thời gian vài trăm năm trước, các cụ ta với quan niệm cổ hủ:
Nhất nam viết hữu
Thập nữ viết vô


Bà Hồ Xuân Hương đã.. phạm thượng một cách nặng nề, nếu có đi học (bà bỏ học năm 13 tuổi vì bố mất sớm) và được đi thi chắc bà cũng sẽ cùng số phận với biết bao sĩ tử thời đó:

Thi không ăn ớt thế mà cay!

Vì đã phạm húy, phạm trường qui, dám khinh thưòng các cụ ..tai to mặt lớn, bằng cấp đầy mình, văn thơ lai láng! Ðiều đó cũng dễ hiểu tại sao là một nữ sĩ có tài, cũng có chồng là quan Tri phủ (ông Phủ Vĩnh Tường) mà bà không được trọng vọng, ngồi chiếu trên, thơ văn không được làm khuôn mẫu giảng dạy trong các trường trung học như bà Huyện Thanh Quan, Bà Ðoàn Thị Ðiểm. Hơn thế nữa, bà có hai đời chồng là ông Tổng Cóc:

Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Ngàn năm khôn chuộc dấu bôi vôi.

và ông Phủ Vĩnh Tường:

Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi!
Cái nợ ba sinh đã trả rồi
Chôn chặt văn chương ba thước đất
Ném tung hồ thỉ bốn phương trời
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Miệng túi càn khôn thắt lại rồi
Hăm bảy tháng trời là mấy chốc
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi!


Mà bà không bao giờ được vinh dự mang tên chồng trong lối xưng hô thông thường của người Việt Nam khi lập gia thất, hoặc chức tước mà đức ông chồng đã có trong xã hội như bà Tổng Cóc hoặc lịch sự hơn nữa : bà Phủ Vĩnh Tường, cũng như bà Huyện Thanh Quan, mà gọi bằng một cái tên tục cộc lốc: Hồ xuân Hương!

Tôi thấy ở đây có sự ...unfair của các cụ thời xưa. Nếu giả dụ bắt đầu ngày hôm nay, từ dòng chữ này tôi gọi bằng ..bà Tổng Cóc chắc chẳng ai biết tôi muốn nói đến nhân vật nào trong văn học sử Việt Nam, mà còn làm trò cười cho thiên hạ! Nói đến sự nghệp văn chương, phải thú thật, mặc dù các cụ ta bề ngoài không tán thành cho lắm nhưng trong lòng vẫn nể phục với lối làm thơ lãng mạn, dí dỏm, chua chát, mỉa mai, tiếu lâm (nếu không muốn nói là hơi tục), một trường phái mà bà là Giáo chủ mà không có giáo dân! Với hai đời chồng đều làm quan lớn, không con cái hủ hỉ lúc tuổi già, đến khi chồng chết lại trắng tay mở quán nước bên đường mưu sinh qua ngày, phải nói bà không những là người văn hay chữ tốt mà còn là người biết tự lập, tháo vát, không phải là những con ký sinh trùng lúc nhỏ sống nhờ cha mẹ, lớn lên nhờ chồng, chồng chết nhờ con! Trong cuộc tranh sống hàng ngày, một thân gái "dặm trường" quanh quẩn bên quán nước bà đã gặp biết bao văn nhân thi sĩ đương thời mượn trà, mượn rượu tán tỉnh, suồng sã như trường hợp ông Chiêu Hổ và đã bị bà chọc xỏ:

Anh đồ tỉnh, anh đồ say
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Này này chị bảo cho mà biết
Chỗ ấy hang hùm chớ mó tay!


Cái hay của thơ là bà đã dùng tên Hổ (tức là Hùm) để chỉ cái "ấy", địa danh không được thanh tao cho lắm! Và cũng cái hay của bà là đã phản kháng một cách mãnh liệt rất nghệ sĩ!

Này này chị bảo cho mà biết
Chỗ ấy hang hùm chớ mó tay!

Không như con gái thời nay chỉ biết ..say NO! NO! một cách yếu ớt!

Nói về cuộc tình của nữ sĩ với ông Phủ Vĩnh Tường (chỉ vỏn vẹn có 27 tháng) tuy ngắn ngủi nhưng cũng nhiều giai thoại, điển hình là trong một ngày ông Phủ vắng nhà, có người đàn bà tên Nguyễn Thị Ðào đệ đơn lên quan phủ xin ly dị để lấy chồng khác, sau một hồi tra hỏi, lại gặp lúc thi hứng tràn trề, bà phóng bút chấp thuận:

Phó cho con Nguyễn Thị Ðào
Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai?
Chữ rằng "xuân bất tái lai"
Cho về kiếm chút, một mai kẻo già!

Tôi thích nhất lối dùng chữ hóm hỉnh, dễ thương của bà trong thơ mà hầu như ít có thi sĩ nào có khả năng đưa vào thơ của mình nếu không có một bộ óc vừa thông minh vừa khôi hài như chữ "khéo khéo" rất ư ...Bắc kỳ trong:

Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ

hay chữ "kiếm chút" nửa úp nửa mở làm cho người đọc phải dùng trí tưởng tượng mộtcách thích thú trong:

Cho về "kiếm chút" một mai kẻo già!

hoặc chữ "leo lẻo" bình dân, quê mùa. Tôi mở tự điển của Ðào Văn Tập, Nguyễn Văn Khôn, Ðào Duy Anh.. vân vân và vân vân, cũng không tìm ra chữ "leo lẻo" mà chỉ thấy mấy chữ leo cây, leo trèo, leo lét vô duyên!

Riêng đặc biệt với ông Cống Sinh vừa mới thi đỗ, xin phép làm thịt trâu khao hàng xóm láng giềng , bà phê trên đơn:

Người ta thì chẳng được đâu
Ừ thì ông Cống làm trâu thì làm!

Chữ "ừ thì" ở đây lại rất thân mật, giản dị, không khách sáo thường dùng cho những người ngang hàng -- trong trường hợp này bà Phủ Vĩnh Tường cho ông Cống Sinh được ngang hàng về phương diện chữ nghĩa -- khác với trường hợp "con" Nguyễn Thị Ðào, một đứa nông dân nghèo hèn vô học:

Phó cho "con" Nguyễn Thị Ðào

Nói về tài ứng đối thơ văn của bà, chắc không ai có thể sánh bằng, vừa lanh lẹ, vừa dí dỏm. Truyện kể một hôm nữ sĩ đi chơi gặp trời mưa trượt chân ngã , người lấm lem, chân xõng xoài dưới đất, hai tay giơ lên trời, bạn bè, khách khứa đượcphen cười thỏa thuê, bà từ từ đứng dậy đọc hai câu thơ chữa thẹn:

Dang tay với thử trời cao thấp
Soạc cẳng đo xem đất vắn dài.

Nếu ở trường hợp các cô gái khác, chắc vì mắc cở sẽ đứng dậy .. khóc ròng, hoặc bỏ chạy một mạch về nhà mách mẹ! Nhưng thơ Hồ Xuân Hương được nhiều người biết đến và làm đề tài tranh luận từ trăm năm nay không phải là những bàithơ trên mà là những bài thanh-tục, tục-thanh như bài "Quả mít" , " Ốc nhồi", " Ðánh đu", " Ðèo Ba Dội" ...

Thú thật, nếu bây giờ cho tôi viết tập làm văn với đề tài " trò hãy tả quả mít" chắc tôi õ..bí tịt chứ chưa cần phải làmthơ tả quả mít! Nữ sĩ chỉ với 4 câu ngắn ngủi đã diễntả đượchết quả mít mà lại còn làm cho người đọc liêntưởng đến "những chuyện" thầntiên đã bị.. dồn nén từ bao năm trong tâm khảm:

Thân em như quả mít trên cây
Da nó xù xì, múi nó dầy
Quân tử có thương thì đóng cọc
Xin đừng mắn mó, nhựa ra tay!

Tuyệt vời, tôi chưa thấy ai tả quả mít một cách đầy đủ như vậy, từ da xù xì, đến múi dầy cơm vàng óng. Ngày xưa ở nhà quê ta, các cụ mỗi lần hái quả mít từ trên cây xuống thường lấy cọc tre đóng vào cuống rồi phơi nắng cho nhựa trắng chẩy hết ra mới đem bócvỏ, lấy từng múi mít béo ngậy thơm phức mà ăn. Hôm nay ngồi đọc thơ Hồ xuân Hương mà thèm rỏ rãi! Có một điều lạ là không hiểu tại sao khi tả "quả mít" hay con "ốc nhồi" nữ sĩ đều liên tưởng đến người.. quân tử:

"Quân tử" có thương thì đóng cọc

và bây giờ thì:

Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi
Ðêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi
"Quân tử" có thương thì bóc yếm
Xin dừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.

Tôi thấy bài này có phần hay hơn bà trên ở chỗ tả một con ốc nhồi đen thui thủi ngày đêm bò lê bò càng trong đám cỏ hôi tanh, bẩn thỉu mà vẫn có người thương yêu, trìu mến, dùng tay ngó ngoáy chẳng sợ.. hôi tanh mùi bùn! Người ấy đâu phải là thường dân quê mùa mà lại là một đấng hiền nhân quân tử! Tôi định xem lại Ðạo Ðức Kinh để tìm định nghĩa về người quântử của Ðức Khổng Phu Tử nhưng bận quá lại thôi, nhờ các bạn tra khảo hộ xem người QUÂNTỬ có dư thì giờ làm chuyện bóc yếm, đóng cọc tầm thường ấy không?? Nói đến "bócyếm" tôi lại nhớ hai câu thơ đã đọc được đâu đó từ thuở nhỏ:

Ngày xưa, ngày xửa, ngày xưa
Mẹ tôi yếm thắm lên chùa đọc kinh

Các cô gái thời xưa thường đeo yếm thắm xanh, đỏ trông rất đẹp mắt trong bộ áo tứ thân với chiếc nón quai thao lộng lẫy mà có ai đòi "bóc yếm" một cách công khai như thế này đâu!! Trở lại chuyện ốc nhồi, ngày xưa còn bé tôi ít được ăn ốc nhồi vì mẹ bảo ốc nhồi nhiều thịt béo ngậy, đắttiền nên mẹ thường đi chợ mua một rổ ốc mút cả nhà mút xì xụp vui tai, hơn nữa ăn ốc mút giản dị hơn, chỉ việc cầm cái kìm nhỏ kẹp bể "cái lỗ trôn" rồi đổ nước mắm gừng pha tí ớt xong, cho lên miệng mút cái .."chụt" là thấy thấm thía đến cả lục phủ ngũ tạng! Tê mê tới tận trời xanh!

Cái ngày còn mài đũng quần trong các lớp đệ ngũ, đệ tứ, tôi được học bài "Qua Ðèo Ngang" của bà Huyện Thanh Quan, sự thật không có gì xuất sắc lắm nhưng muốn có điểm cao cứ phải khen lấy khen để, thực ra bà Huyện thấy gì tả nấy, như thấy con cóc trong hang nhẩy ra, ngồi đó, nhẩy đi, rồi lại ngồi đó, thì làm sao cóthể so sánh với bài "Ðèo Ba Dội" của Bà Phủ Vĩnh Tường, rất ví von, nhẹ nhàng, thanh thoát, hóm hỉnh, tượng hình, tượng thanh. Chúng ta thử theo gót Bà Huyện Thanh Quan đến Ðèo Ngang vào một buổi chiều, mặt trời xế bóng, nhìn phong cảnh bao la, hùng vĩ của sông núi, những tia nắng vàng yếu ớt xuyên qua từng kẽ lá phản chiếu trên mặt nước long lanh của một con suối róc rách chẩy, tạo thành một bức tranh sơn thủy tuyệt vời, âm thanh dịu dàng, tâm hồn người thơ như chìm đắm trong cái đẹp mơ màng của buổi hoànghôn. Vậy mà Bà Huyện chỉ viếtđược:

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

Nhìn xuống dưới thung lũng thấy cỏ cây hoa lá chen chúc mọc, bà đề:

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

Xa hơn nữa vài chú tiều ốm-o gầy còm đang lom khom làm rẫy:

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Chung quanh vài căn nhà lác đác trên bờs ông:

Lác đác bên sông chợ mấy nhà.

Thú thật tôi chẳngc ó một tí.. feeling nào hết!! Làm thơ như vậy ai làm mà chả được!! Ta hãy để tâm hồn lắng đọng lại, tưởng tựơng mình đang đi về miền quê ngoạn cảnh, qua miền đồi núi hương thơm ngào ngạt, xa xa con đường đất nhỏ uốn khúc chạy xuyên qua hết đèo này tới đèo khác lên cao bất tận, bà Phủ Vĩnh Tường đã phải dùng ba lần chữ "một đèo" để tả cảnh non nước hữu tình trùng trùng điệp diệp này của Ðèo Ba Dội:

Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạo cảnh cheo leo

Ðến đây khách lữ hành xin hãy dừng chân ở một quán nước bên đường uống ly trà xanh nóng hổi, nhìn lại con đường cheo leo vừa trèo lên mà tự khen thầm "mình còn dẻo dai lắm chứ! ". Khác với bà Huyện , bà Phủ đến Ðèo Ba Dội lúc bình minh, mặt trời bừng sáng mở ra một vũ trụ mênh mông tươi mát, tiếng chim hót líu lo trên cành chào mừng một ngày mới, những cánh hoa muôn sắc đua nhau nở rộ như muốn quênđi cơn bão lốc đêm qua, đâu đó còn sót lại vài cành thông còn rơi tơi tả điểm những giọt sương mai trắng xóa long lanh trên cành liễu u sầu!

Lắt lẻo cành thông, cơn gió thốc
Ðầm đìa lá liễu giọt sương mai

Ai qua cảnh Ðèo Ba Dội nên thơ hữu tình như vậy mà không xúc động, làm ngơ cho được:

Hiền nhân quân tử ai mà chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.

Cũng chẳng phải hiền nhân quân tử , đến như kẻ phàm tục như chúng ta cũng vẫn muốn trèo để thưởng lãm cái đẹp, cái nênthơ của tạo hóa!! Tôi rất tiếc không có tài làm thơ để có thể họa lại bài này, và tôi cũng chưa được đọc bài thơ nào từ đông sang tây tả cảnh " trèo đèo" hay như thế, tìnhtứ , lãng mạn như vậy. Ðỗ Phủ, Lý Bạch, Thôi Hiệu .. làm sao sánh bằng! Quả thật thiên tài như Bà Phủ chỉ có một.

Tôi không biết phải viết gì để kết luận cho thiên phiếm luận này, khen, chê là công việc của những nhà phê bình văn học nghệ thuật, nhưng dù sao chăng nữa ta cũng thấy sự thiên vị rõ ràng giữa hai bà một Phủ, một Huyện, cái lỗi rành rành của bà Phủ Vĩnh Tường là không chịu theo khuôn phép do các cụ đặt ra cho "nàngthơ" nên mới ra nông nỗi này!

Từ vietnamdaily.com
2350 SOUTH TENTH ST., SAN JOSE, CA 95112
TEl: (408) 292-3422 * FAX: (408) 293-5153

Nguồn: http://www.nhanmonquan.ne...tin/showthread.php?t=7807
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.

Thành ngữ và tục ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương

Xiao Qiao

Xiao Qiao

Đăng ký: 9/3/2009
Số bài: 4

Tác giả: Đặng Thanh Hoà


Người ta thường bảo “Nôm na là cha mách qué”, thế nhưng với thơ Hồ Xuân Hương thì đó lại là một ngoại lệ, bởi vì người đọc nhớ Xuân Hương, yêu Xuân Hương lại chính từ cái sự “mách qué” ấy. Nếu không có cái chất “nôm na”, “mách qué”, “xỏ xiên” đầy tinh quái này thì có lẽ đã không có một Xuân Hương để cho người đời chiêm ngưỡng và tôn vinh Bà thành Bà chúa thơ Nôm trong làng thơ Việt Nam. Chính cái chất nôm na trong thơ của Bà đã tạo nên một chất men xúc tác mãnh liệt trong lòng người đọc. Người ta ngây ngất, hỉ hả, khoái trá với cái thứ ngôn ngữ “nhà quê, mách qué” như: đỏ lòm lom, già tom, mân mó, tấp tênh, lún phún, le te, chín mõm mòm,... Tất cả những cái đó hoàn toàn xa lạ với sự trau chuốt, gọt giũa, khuôn sáo mà người ta thường bắt gặp trong ngôn ngữ thơ. Ngoài những đặc trưng ấy, người ta còn bắt gặp ở Bà một biệt tài nữa trong việc vận dụng tiếng nói dân gian trong thơ. Đó là việc đưa thành ngữ, tục ngữ vào trong thơ, làm cho câu thơ trở nên giàu tính hình tượng, dễ nhớ, và độc đáo hơn.

Qua sự khảo sát trong số 39 bài thơ trong tập Thơ Hồ Xuân Hương do tác giả Nguyễn Lộc tuyển chọn và giới thiệu được Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1987, chúng tôi đã phát hiện được 15 trường hợp có xuất hiện các yếu tố của thành ngữ, tục ngữ trong những câu thơ. Đây quả là một con số không nhỏ, nó cho thấy thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng như thế nào. Quả là hiếm có một nhà thơ nào lại quan tâm đặc biệt đến vai trò của ngôn ngữ dân gian như Hồ Xuân Hương.

Việc đưa thành ngữ, tục ngữ vào tác phẩm đã được nhà thơ xử lí rất tinh tế, tài tình và nhuần nhuyễn. Có những tác phẩm tuy rất ngắn nhưng chúng ta đã không khỏi ngạc nhiên khi thấy tác giả đã hai lần sử dụng đến yếu tố thành ngữ, tục ngữ. Chẳng hạn như: Bài Mời trầu có hai câu thành ngữ xanh như lá và bạc như vôi được áp dụng trong câu thơ "Đừng xanh như lá, bạc như vôi". Bài Khóc Tổng Cóc lại có hai câu thành ngữ khác là nòng nọc đứt đuôi và gọt gáy bôi vôi được áp dụng trong hai câu thơ “Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé, Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi”. Hoặc như ở bài Quan thị thì hai câu thơ "Đố ai biết đó vông hay trốc, Còn kẻ nào hay cuống với đầu" lại chính là hai hình ảnh hết sức ví von được rút ra từ hai câu tục ngữ ngồi lá vông, chổng mông lá trốc và đầu trỏ xuống, cuống trỏ lên.

Thậm chí có bài như bài Làm lẽ, chỉ với tám câu thơ ngắn nhưng lại có tới ba câu thành ngữ đã góp phần vào trong ấy, đó là "Năm thì mười hoạ chăng hay chớ" lấy từ ý của câu thành ngữ năm thì mười hoạ; “Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm" lấy từ ý của câu thành ngữ cố đấm ăn xôi; và câu "Cầm bằng làm mướn, mướn không công" lấy từ ý của thành ngữ làm mướn không công. Ngoài ra, còn có những bài khác cũng được vận dụng từ ý của thành ngữ, tục ngữ như: "Tài tử văn nhân ai đó tá?" (Tự tình I) lấy ý của thành ngữ tài tử giai nhân. "ấy ai thăm ván cam lòng vậy" (Tự tình III) lấy ý thành ngữ thăm ván bán thuyền. "Bảy nổi ba chìm với nước non" (Bánh trôi nước) ý của thành ngữ ba chìm bảy nổi (bảy nổi ba chìm). "Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo" (Đèo Ba Dội) ý của thành ngữ mỏi gối chồn chân. "Bán lợi mua danh nào những kẻ" (Chơi chợ chùa Thầy) ý của thành ngữ bán lợi mua danh (mua danh bán lợi). Và "Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi" (Con ốc nhồi) từ ý của thành ngữ lăn lóc như cóc bôi vôi.

Qua một số dẫn chứng trên, chúng ta có thể thấy rằng Hồ Xuân Hương khi đưa thành ngữ, tục ngữ vào thơ thường chủ yếu thông qua hai phương thức chính như sau: Phương thức thứ nhất là vận dụng trực tiếp thành ngữ, tục ngữ vào thơ, tức là lấy nguyên văn, nguyên dạng những câu thành ngữ, tục ngữ vốn có của dân gian để đưa vào thơ như trường hợp: xanh như lá, bạc như vôi (Đừng xanh như lá, bạc như vôi - Mời trầu); nòng nọc đứt đuôi (Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé - Khóc Tổng Cóc); năm thì mười hoạ, (Năm thì mười hoạ chăng hay chớ - Làm lẽ); cố đấm ăn xôi (Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm - Làm lẽ); bảy nổi ba chìm (Bảy nổi ba chìm với nước non - Bánh trôi nước); mỏi gối chồn chân (Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo - Đèo Ba Dội); bán lợi mua danh (Bán lợi mua danh nào những kẻ - Chơi chợ chùa Thầy). Cách xử lí này phải nói là tương đối khó bởi vì nó đòi hỏi tác giả phải có một khả năng cảm nhận hết sức tinh tế về nghĩa của những câu thành ngữ, tục ngữ mà họ định sử dụng để xem nó có phù hợp với ý thơ mà mình định trình bày ở trong câu và trong bài hay không. Đồng thời, tác giả cũng phải là người hết sức giỏi về khả năng xử lí ngôn từ để có thể “ghép” những câu thành ngữ, tục ngữ, vốn là một “khối từ ngữ đúc sẵn”, vào với những từ ngữ chủ quan riêng của mình để tạo nên một câu thơ hoàn chỉnh mà không bị cứng nhắc, gượng ép về nghĩa cũng như về vần điệu.

Những khó khăn nói trên đã được Hồ Xuân Hương xử lí thành công một cách tuyệt vời. Chúng ta thử lấy một ví dụ nhỏ trong số các ví dụ trên thì sẽ thấy rõ hơn biệt tài của Bà trong vấn đề này. Ví dụ trong bài Làm lẽ, để miêu tả thân phận hẩm hiu, thua thiệt của người vợ lẽ trong cuộc sống vợ chồng, tác giả đã sử dụng hai câu thành ngữ năm thì mười hoạ và cố đấm ăn xôi trong hai câu thơ "Năm thì mười hoạ chăng hay chớ" và "Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm". Đối với tiềm thức văn hoá của người Việt thì hai câu thành ngữ này vốn rất quen thuộc vì nó thường được sử dụng để nói tới sự trái khoáy, trớ trêu của một điều gì đó. Vì vậy trong trường hợp này phải nói rằng Xuân Hương đã sử dụng nó rất hợp cảnh hợp tình.

Phương thức thứ hai là chỉ lấy ý của thành ngữ, tục ngữ để chuyển vào trong thơ chứ không áp dụng hoàn toàn như ở cách thứ nhất. Chẳng hạn như: thăm ván bán thuyền (ấy ai thăm ván cam lòng vậy - Tự tình III); gọt gáy bôi vôi (Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi - Khóc Tổng Cóc); làm mướn không công (Cầm bằng làm mướn, mướn không công - Làm lẽ); ngồi lá vông, chổng mông lá trốc (Đố ai biết đó vông hay trốc - Quan thị); đầu trỏ xuống, cuống trỏ lên (Còn kẻ nào hay cuống với đầu - Quan thị); lăn lóc như cóc bôi vôi (Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi - Con ốc nhồi). Cách xử lí này thường tạo nên tính ẩn ý kín đáo cho câu thơ và đôi lúc khiến cho câu thơ như có hơi hướng của những câu đố, ví dụ như trường hợp của "Đố ai biết đó vông hay trốc" (Quan thị) hay như "Còn kẻ nào hay cuống với đầu" (Quan thị). Những câu thơ được sáng tác theo kiểu này thường tạo cho người đọc có những sự liên tưởng rộng hơn, thích thú hơn và đầy ấn tượng hơn bởi vì dấu ấn thành ngữ, tục ngữ thường chỉ tồn tại phảng phất trong câu thơ chứ không hiện hữu rõ ràng như ở cách thứ nhất. Do đó, muốn phát hiện ra trong câu thơ ấy tác giả có sử dụng các môtip của thành ngữ, tục ngữ để diễn đạt nội dung hay không thì người đọc phải có một vốn thành ngữ, tục ngữ nhất định để làm cơ sở quy chiếu so sánh thì mới nhận ra được.

Qua một số ví dụ trên, chúng ta thấy rằng ngôn ngữ dân gian nói chung và thành ngữ, tục ngữ nói riêng có một vai trò, giá trị rất lớn không chỉ trong đời sống ngôn ngữ nói hằng ngày mà còn cả trong ngôn ngữ viết, đặc biệt là thơ. Những câu thành ngữ, tục ngữ khi đi qua ngòi bút tài hoa của Hồ Xuân Hương dường như trở thành một thứ công cụ hết sức đắc dụng trong việc tạo hình, tạo nghĩa cho thơ mà không cần phải nhờ tới những thứ mĩ từ khác. Như chúng ta đã biết, thành ngữ, tục ngữ vốn là những đơn vị ngôn ngữ hết sức đặc biệt. Nó là một loại tổ hợp từ cố định quen dùng nên rất dễ nhớ dễ thuộc, và đặc biệt hơn là nghĩa của chúng thường có tính văn hoá, giáo dục cộng đồng, cũng như tính khái quát rất cao. Cho nên, khi xuất hiện trong thơ chúng thường đem lại tính gần gũi, bình dị và mộc mạc cho câu thơ. Đồng thời, cũng tạo nên những chiều sâu về nghĩa thông qua sự liên tưởng, suy luận của người đọc. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận giá trị của nền ngôn ngữ văn chương, hay ngôn ngữ phổ thông mà hiện nay chúng ta đang phải học, phải tiếp xúc hằng ngày. Điều quan trọng hơn là qua đó giúp cho chúng ta thấy được những vẻ đẹp vốn có của ngôn ngữ dân gian. Và đặc biệt là thấy được cái biệt tài của Bà chúa thơ Nôm trong việc vận dụng thành ngữ, tục ngữ giỏi như thế nào. Nói tóm lại, bất kể là ngôn ngữ dân gian hay ngôn ngữ văn chương cũng đều cần phải được tiếp thu có chọn lọc và phát huy đúng sở trường thì mới có thể làm giàu thêm cho kho tàng ngôn ngữ dân tộc. Điều đó có nghĩa là mọi cái chỉ tạo nên được giá trị thực sự khi và chỉ khi nó được đặt vào đúng vị trí của nó mà thôi./.

(Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống)
如风如雨又如霜!!!

Gửi Vanachi

Nguyễn Thu Loan

Nguyễn Thu Loan

Đăng ký: 5/7/2014
Số bài: 1

Theo những gì bạn hiểu, có thể thấy bạn chưa sâu sắc lắm về thơ ca nước nhà thời trung đại. Ý kiến của bạn:

Cái ngày còn mài đũng quần trong các lớp đệ ngũ, đệ tứ, tôi được học bài "Qua Ðèo Ngang" của bà Huyện Thanh Quan, sự thật không có gì xuất sắc lắm nhưng muốn có điểm cao cứ phải khen lấy khen để, thực ra bà Huyện thấy gì tả nấy, như thấy con cóc trong hang nhẩy ra, ngồi đó, nhẩy đi, rồi lại ngồi đó, thì làm sao cóthể so sánh với bài "Ðèo Ba Dội" của Bà Phủ Vĩnh Tường, rất ví von, nhẹ nhàng, thanh thoát, hóm hỉnh, tượng hình, tượng thanh. Chúng ta thử theo gót Bà Huyện Thanh Quan đến Ðèo Ngang vào một buổi chiều, mặt trời xế bóng, nhìn phong cảnh bao la, hùng vĩ của sông núi, những tia nắng vàng yếu ớt xuyên qua từng kẽ lá phản chiếu trên mặt nước long lanh của một con suối róc rách chẩy, tạo thành một bức tranh sơn thủy tuyệt vời, âm thanh dịu dàng, tâm hồn người thơ như chìm đắm trong cái đẹp mơ màng của buổi hoànghôn. Vậy mà Bà Huyện chỉ viếtđược:

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

Nhìn xuống dưới thung lũng thấy cỏ cây hoa lá chen chúc mọc, bà đề:

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

Xa hơn nữa vài chú tiều ốm-o gầy còm đang lom khom làm rẫy:

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Chung quanh vài căn nhà lác đác trên bờs ông:

Lác đác bên sông chợ mấy nhà.

Thú thật tôi chẳngc ó một tí.. feeling nào hết!! Làm thơ như vậy ai làm mà chả được!! Ta hãy để tâm hồn lắng đọng lại, tưởng tựơng mình đang đi về miền quê ngoạn cảnh, qua miền đồi núi hương thơm ngào ngạt, xa xa con đường đất nhỏ uốn khúc chạy xuyên qua hết đèo này tới đèo khác lên cao bất tận, bà Phủ Vĩnh Tường đã phải dùng ba lần chữ "một đèo" để tả cảnh non nước hữu tình trùng trùng điệp diệp này của Ðèo Ba Dội:

Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạo cảnh cheo leo

........Đây không phải một bài thơ miêu tả cảnh thiên nhiên bạn nhé, nếu vậy, điều đó thật hời hợt và nhà văn cũng chẳng có điều gì đáng quan tâm. Một bài thơ ra đời, khi nghiên cứu phân tích, ta không nên chỉ dựa vào ngôn từ mà đánh giá toàn vẹn tác phẩm. Nước ta có rất nhiều nhà nghiên cứu văn học tâm huyết và tài năng, không phải đơn giản họ hùa nhau tung hô một tác phẩm để tác phẩm đó nổi bật đâu, hoàn toàn ko phải như thế. Cái chuẩn cao nhất khi đánh giá, chính là khám phá cái hình thức bên trong mà tác phẩm biểu hiện. Một tác phẩm sống được qua hàng niên kỉ chứng tỏ tác phẩm ấy có giá trị.tác phẩm Qua đèo ngang,ko mang ý nghĩa hời hợt như bạn nói, 1 phần thôi nhé. Ý tứ bài thơ chứa đầy nỗi lòng của tác giả khi ra làm quan nhà Mạc, đánh dấu cho sự sụp đổ của nhà Lê, Đèo Ngang ấy là ranh giới của sự tình biến chuyển, bà bước qua đèo chính là lúc bà công nhận triều Lê đã mất, từ đó hoài niệm về những gì thuộc về quá khứ. Chỉ khi nhập tâm vào tác phẩm, ta mới hiểu hết được nỗi chua xót, nghe được tiếng thở dài của người thi sĩ khi chấp nhận bước qua ranh giới ấy:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta!!!
Toàn bộ ý tứ bài thơ còn nhiều nữa nhưng chỉ ra đôi chút thôi, mong bạn gì đó đánh giá tác phẩm của các thi sĩ sâu sắc hơn, thơ Hồ Xuân Hương cũng vậy, phải nghiên cứu kĩ mới cảm hết được, đánh giá trên ngôn từ thì giống với đánh giá của mấy nhà nghiên cứu trong quá khứ mất rồi, lấy một từ để quy chụp tác phẩm hoàn toàn thiếu cơ sở. Thân chào và chúc sức khoẻ!!!


 





© 2004-2014 Vanachi