Thi viện

Quên mật khẩu | Đăng ký

411 người đang online (2 thành viên)

 

» Tham gia Thi Viện trên facebook Tìm nhanh:      Góp ý



Nguyễn Du - 阮攸  x x x

Thơ » Việt Nam



» Hiện danh sách 41 người yêu thích
» Hiện danh sách 12 bài viết liên quan tới tác giả Nguyễn Du trong Thư viện bài viết
- Ẩn tiểu sử tác giả
Nguyễn Du 阮攸 (13-1-1766 - 16-9-1820), tự Tố Như 素如, hiệu Thanh Hiên 清軒, quê gốc làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh và trải qua thời niên thiếu ở Thăng Long. Cha là Nguyễn Nghiễm đã làm tới chức tể tướng triều Lê. Mẹ là bà Trần Thị Tần, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, người xứ Kinh Bắc (Nguyễn Nghiễm có tám vợ, hai mươi mốt người con). Mười tuổi, Nguyễn Du mồ côi cha, mười ba tuổi mồ côi mẹ. Vì thế tiếng là con quan đại thần nhưng ngay từ thời thơ ấu Nguyễn Du đã phải sống vất vả thiếu thốn. Truyện KiềuVăn chiêu hồn, hai kiệt tác chữ Nôm của Nguyễn Du, rộng xin được giới thiệu riêng vào dịp khác. Tập sách này chỉ chọn lựa một số bài thơ chữ Hán tiêu biểu của ông.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du cho thấy phần sâu kín trong tâm trạng ông. Nó như một thứ nhật ký, giãi bày mọi nỗi niềm, mọi ý nghĩ trong cảnh sống thường nhật của chính ông. Cả ba cuốn Thanh Hiên thi tập (viết trong khoảng 1785-1802, khi Nguyễn Du lánh ẩn ở quê vợ, Thái Bình, rồi trở về Hồng Lĩnh và ra lại Bắc Hà làm quan triều Gia Long), Nam trung tạp ngâm (1805-1812, khi Nguyễn Du làm quan ở Huế rồi cai bạ Quảng Bình) và Bắc hành tạp lục (1813-1814, thơ viết trên đường đi sứ Trung Hoa) đều có một giọng u trầm thấm thía, đầy cảm xúc nội tâm. Thơ chữ Hán Nguyễn Du như một tiếng thở dài luận bàn nhân tâm thế sự và xót thương thân phận. Một hình ảnh trở đi trở lại là mái tóc bạc, Nguyễn Du có mái tóc bạc sớm, mái tóc như biểu tượng của lo nghĩ, của những nghiền ngẫm buồn thương và bế tắc "Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên, Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên", (Tráng sĩ ngẩng mái đầu tóc bạc, bi thương than với trời xanh: chí lớn một đời và miếng ăn hàng ngày cả hai đều mờ mịt). Với một tài năng, lại từng là con quan tể tướng, lời than ấy thật xót xa. Tây Sơn ra Bắc 1786, Nguyễn Du ôm mối ngu trung với nhà Lê, không cộng tác, tìm đường lánh ẩn chịu sống nghèo khổ. Những thiếu thốn vật chất đôi lúc lộ ra trong thơ: Quê nhà đại hạn, mười đứa con sắc mặt xanh như rau ("Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng"). Hoặc: Trong bếp suốt ngày không có khói lửa. Trước đèn phải mượn chén rượu cho gương mặt được hồng hào. Do vậy, ông thấy "Nhất sinh từ phú như vô ích, Mãn giá cầm thư đồ tự ngu" (Một đời chữ nghĩa thành vô ích. Sách đàn đầy giá chỉ làm ta ngu dốt). Lời nhận xét thật chua chát, bế tắc. Mái tóc bạc như một chứng tích tiều tụy cho cái nghịch lý ấy: Phơ phơ tóc bạc sống gửi ở nhà người, rồi: Già đến, tóc bạc đáng thương cho ngươi. Nói là già đến, nhưng lúc viết Thanh Hiên thi tập Nguyễn Du chỉ ở tuổi 20 đến 37. "Trù trướng lưu quang thôi bạch phát" (Ngậm ngùi vì ngày tháng giục tóc bạc). Mái tóc bạc thành bạn tri âm cho Nguyễn Du than thở: Tóc sương là bạn đi cùng. Mái tóc bạc bay trước gió thu. Mái tóc bạc nhuốm bụi hồng là chân dung tâm hồn của Nguyễn Du. Cả đời chưa thấy lúc nào ông đắc ý. Một sự chọn hướng trái chiều với bước đi của lịch sử làm Nguyễn Du ngùi ngẫm giằng xé cả một đời, ngay cả thời gian ra làm quan với Gia Long: Ơn vua chưa trả đỉnh đinh, Mưa xuân nhuần thấm nhưng mình lạnh xương. Tạ ơn mưa móc của vua nhưng lại thấy buốt lạnh trong xương cốt. Nỗi niềm ấy chúng ta hiểu cho Nguyễn Du. Nguyễn Du ôm một nỗi niềm éo le. Giáo lý Khổng Mạnh dạy: tôi trung không thờ hai vua. Nhưng với Nguyễn Du, vua phải thờ thì hèn kém, thậm chí rước voi về giày mồ (Lê Chiêu Thống), còn vua phải chống thì lại anh hùng, bảo vệ độc lập dân tộc (Quang Trung). Đau đớn, bế tắc của Nguyễn Du là ở đấy. Biết mà không vượt qua được, ông mong được hậu thế cảm thông: "Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khốc Tố Như" (Ba trăm năm nữa nào biết được thiên hạ ai người khóc Tố Như). Tương truyền: "Khi ốm nặng, ông không uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ nói: đã lạnh rồi. Ông bảo: Được! Rồi mất. Không trối lại một lời". Có một nỗi niềm đến phút cuối Nguyễn Du vẫn phải nén lại và mang đi. Buồn thương, cô đơn đã thành thuộc tính của đời ông như màu xanh là thuộc tính của cỏ Nhân tự bi thê, thảo tự thanh (Người tự buồn thương, cỏ tự xanh).

Hiện thực cuộc sống bi thương trong xã hội phong kiến cả ở nước ta lẫn ở Trung Hoa thuở ấy, từ cảnh ngộ dâu bể của cô Cầm đánh đàn ở Thăng Long đến nỗi cơ cực của ông già hát rong ở đất Thái Bình (Trung Quốc) đã cho Nguyễn Du thấy thân phận bèo bọt và những bất công mà kiếp người phải chịu. Từ chính cảnh ngộ của mình ông thông cảm sâu sắc, tạo nên tình cảm thấm thía cho những bài thơ thương đời. Thương đời và thương mình đều da diết như nhau. Nguyễn Du hay nói tới thân phận tha hương, lưu lạc. Nỗi nhớ quê nhà luôn luôn bàng bạc trong các bài thơ. Ông thấy tài năng văn chương như con chim phượng nhốt trong lồng nát và công danh thì cùng đường như con rắn đã chui trong hang ("Bình sinh văn thái tàn lung phượng, Phù thế công danh tẩu hác xà"). Ông viết bài thơ chống lại bài Chiêu hồn Khuất Nguyên của Tống Ngọc, ông xui Khuất Nguyên đừng về vì thành quách vẫn còn nguyên mà người đã đổi khác, bụi bặm cuồn cuộn làm nhơ nhớp cả quần áo. Ông khái quát: Đời bây giờ người người đều đều là Thượng Quan (Thượng Quan là kẻ gièm pha làm hại Khuất Nguyên) và mặt đất thì chỗ nào cũng là sông Mịch La (con sông Khuất Nguyên trẫm mình). Ở các bài vịnh nhân vật và luận về các sự kiện lịch sử Trung Hoa trong Bắc hành tạp lục, Nguyễn Du đã xuất phát từ quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của con người để cân đo lại trọng lượng các vĩ nhân và các chiến công ầm ỹ một thời.

Đọc thơ chữ Hán Nguyễn Du chúng ta hiểu cội nguồn chủ nghĩa nhân đạo của ông thể hiện trong Truyện Kiều và những ký thác đời ông vào hình tượng Kiều, nhân vật sắc tài mà bạc mệnh.


Hà Nội 16-10-2000
Vũ Quần Phương

[Gửi ngày 12/06/2005 10:20 bởi Vanachi. Sửa 2 lần, lần cuối ngày 20/07/2010 19:53 bởi Admin.]


1. Văn tế thập loại chúng sinh2. Văn tế Trường Lưu nhị nữ 
1. My trung mạn hứng11. Ký hữu (I)21. Sơn thôn
2. Tặng Thực Đình12. Khai song22. Thôn dạ
3. Phúc Thực Đình13. Biệt Nguyễn đại lang kỳ 123. Tạp ngâm kỳ 1
4. Hành lạc từ kỳ 114. Biệt Nguyễn đại lang kỳ 224. Tạp ngâm kỳ 2
5. Hành lạc từ kỳ 215. Biệt Nguyễn đại lang kỳ 325. Tạp ngâm kỳ 3
6. Độ Long Vĩ giang16. Ngoạ bệnh kỳ 126. Mạn hứng
7. Tạp thi kỳ 117. Ngoạ bệnh kỳ 227. Dạ hành
8. Tạp thi kỳ 218. Đối tửu28. Đạo ý
9. Ký Huyền Hư tử19. Lam giang29. Điếu La Thành ca giả
10. Ký giang bắc Huyền Hư tử20. Liệp30. Ninh Công thành
1. Ký hữu (II)7. Mộ xuân mạn hứng13. Đề Nhị Thanh động
2. Sơ nguyệt8. Thanh Quyết giang vãn diểu14. Vọng Phu thạch
3. La Phù giang thuỷ các độc toạ9. Đồng Lư lộ thượng dao kiến Sài Sơn15. Xuân tiêu lữ thứ
4. Ngẫu hứng kỳ 110. Đồng Lung giang16. Điệp tử thư trung
5. Ngẫu hứng kỳ 211. Lạng Sơn đạo trung17. Khổng tước vũ
6. Thanh minh ngẫu hứng12. Quỷ Môn đạo trung18. Độc Tiểu Thanh ký
1. Sơn cư mạn hứng11. Xuân dạ21. Mạn hứng kỳ 2
2. U cư kỳ 112. Thu chí (II)22. Đại nhân hí bút
3. U cư kỳ 213. Thu dạ kỳ 123. Vị Hoàng doanh
4. Tự thán kỳ 114. Thu dạ kỳ 224. Độ Phú Nông giang cảm tác
5. Tự thán kỳ 215. Tống Nguyễn Sĩ Hữu nam quy25. Hoàng Mai kiều vãn diểu
6. Bất mị16. Lưu biệt Nguyễn đại lang26. Dao vọng Càn Hải từ
7. Quỳnh Hải nguyên tiêu17. Hoạ Hải ông Đoàn Nguyễn Tuấn "Giáp Dần phụng mệnh nhập Phú Xuân đăng trình lưu biệt bắc thành chư hữu" chi tác27. Ký mộng
8. Xuân nhật ngẫu hứng18. Bát muộn28. Tái du Tam Điệp sơn
9. Tạp ngâm19. Trệ khách29. Giang đình hữu cảm
10. Khất thực20. Mạn hứng kỳ 130. Ức gia huynh
1. Dạ toạ7. Ngẫu thư công quán bích13. Tặng nhân
2. Vọng Thiên Thai tự8. Ngẫu đề công quán bích kỳ 114. Thu nhật ký hứng
3. Phượng Hoàng lộ thượng tảo hành9. Ngẫu đề công quán bích kỳ 215. Thành hạ khí mã
4. Mộng đắc thái liên10. Tống nhân16. Đại tác cửu thú tư quy
5. Thu chí (I)11. Ngẫu đề 
6. Điệu khuyển12. Tân thu ngẫu hứng 
1. Long thành cầm giả ca45. Tam Liệt miếu89. Thất thập nhị nghi trủng
2. Thăng Long kỳ 146. Quế Lâm Cù Các Bộ90. Lạn Tương Như cố lý
3. Thăng Long kỳ 247. Quế Lâm công quán91. Hàm Đan tức sự
4. Ngộ gia đệ cựu ca cơ48. Đề Vi, Lư tập hậu92. Hàn Tín giảng binh xứ
5. Quỷ Môn quan49. Quá Thiên Bình93. Liêm Pha bi
6. Lạng thành đạo trung50. Vọng Tương Sơn tự94. Tô Tần đình kỳ 1
7. Lưu biệt cựu khế Hoàng51. Vĩnh Châu Liễu Tử Hậu cố trạch95. Tô Tần đình kỳ 2
8. Trấn Nam Quan52. Tương giang dạ bạc96. Dự Nhượng kiều chuỷ thủ hành
9. Nam Quan đạo trung53. Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu kỳ 197. Dự Nhượng kiều
10. Mạc phủ tức sự54. Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu kỳ 298. Kinh Kha cố lý
11. Giáp Thành Mã Phục Ba miếu55. Phản Chiêu hồn99. Đế Nghiêu miếu
12. Minh giang chu phát56. Biện Giả100. Lưu Linh mộ
13. Ninh Minh giang chu hành57. Trường Sa Giả thái phó101. Kỳ lân mộ
14. Đề Đại Than Mã Phục Ba miếu58. Sơ thu cảm hứng kỳ 1102. Yển Thành, Nhạc Vũ Mục ban sư xứ
15. Hoàng Sào binh mã59. Sơ thu cảm hứng kỳ 2103. Đông lộ
16. Vọng Quan Âm miếu60. Sở vọng104. Quản Trọng Tam Quy đài
17. Tam Giang khẩu đường dạ bạc61. Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ kỳ 1105. Kê Khang cầm đài
18. Vãn há Ðại Than, tân lạo bao trướng, chư hiểm câu thất62. Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ kỳ 2106. Đông A sơn lộ hành
19. Há than hỷ phú63. Tương Âm dạ107. Sở Bá Vương mộ kỳ 1
20. Thái Bình thành hạ văn xuy địch64. Đăng Nhạc Dương lâu108. Sở Bá Vương mộ kỳ 2
21. Thái Bình mại ca giả65. Hoàng Hạc lâu109. Liễu Hạ Huệ mộ
22. Chu hành tức sự66. Hán Dương vãn diểu110. Từ Châu đạo trung
23. Sơn Đường dạ bạc67. Nhiếp Khẩu đạo trung111. Nhị Sơ cố lý
24. Thương Ngô tức sự68. Lý gia trại tảo phát112. Từ Châu đê thượng vọng
25. Thương Ngô mộ vũ69. Vũ Thắng quan113. An Huy đạo trung
26. Ngũ nguyệt quan cạnh độ70. Tín Dương tức sự114. Á Phụ mộ
27. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 0171. Ngẫu hứng115. Chu Lang mộ
28. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 0272. Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm hầu tác116. Tổ Sơn đạo trung
29. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 0373. Độ Hoài hữu cảm Văn thừa tướng117. Quảng Tế ký thắng
30. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 0474. Hà Nam đạo trung khốc thử118. Đồ trung ngẫu hứng
31. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 0575. Cựu Hứa Đô119. Hoàng Châu trúc lâu
32. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 0676. Âu Dương Văn Trung Công mộ120. Vinh Khải Kỳ thập tuệ xứ
33. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 0777. Bùi Tấn Công mộ121. Mạnh Tử từ cổ liễu
34. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 0878. Hoàng hà122. Từ Châu dạ
35. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 0979. Hoàng Hà trở lạo123. Tiềm Sơn đạo trung
36. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 1080. Tỉ Can mộ124. Đào Hoa đàm Lý Thanh Liên cựu tích
37. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 1181. Trở binh hành125. Đào Hoa dịch đạo trung kỳ 1
38. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 1282. Kê thị trung từ126. Đào Hoa dịch đạo trung kỳ 2
39. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 1383. Nhạc Vũ Mục mộ127. Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài
40. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 1484. Tần Cối tượng kỳ 1128. Tây Hà dịch
41. Thương Ngô Trúc chi ca kỳ 1585. Tần Cối tượng kỳ 2129. Sở kiến hành
42. Dương Phi cố lý86. Vương Thị tượng kỳ 1130. Hoàng Mai sơn thượng thôn
43. Triệu Vũ Đế cố cảnh87. Vương Thị tượng kỳ 2131. Hoàng Mai đạo trung
44. Bất tiến hành88. Đồng Tước đài132. Chu phát
1. Hồi 019. Hồi 0917. Hồi 17
2. Hồi 0210. Hồi 1018. Hồi 18
3. Hồi 0311. Hồi 1119. Hồi 19
4. Hồi 0412. Hồi 1220. Hồi 20
5. Hồi 0513. Hồi 1321. Hồi 21
6. Hồi 0614. Hồi 1422. Hồi 22
7. Hồi 0715. Hồi 15 
8. Hồi 0816. Hồi 16 


   Văn tế thập loại chúng sinh
 
Thể thơ: Song thất lục bát, thời kỳ: Nguyễn
Từ khoá: điếu tế , văn tế
Đã được xem 5956 lần
Đăng bởi Vanachi vào 13/07/2005 10:35
Đã sửa 3 lần, lần sửa cuối bởi Vanachi vào 10/03/2006 22:37
x Có 2 bài trả lời
x Có 16 người yêu thích


(3.6 điểm, 15 người bầu)
Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
x Thao tác
 
 
 
Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô
Não người thay buổi chiều thu,
Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng...
Đường bạch dương bóng chiều man mác,
Dịp đường lê lác đác mưa sa
Lòng nào lòng chẳng thiết tha
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.
...

» Xem toàn bộ bài thơ

 
 

   Văn tế Trường Lưu nhị nữ
 
Thể thơ: Phú, thời kỳ: Nguyễn
Từ khoá: điếu tế, văn tế
Đã được xem 1721 lần
Đăng bởi Vanachi vào 02/04/2007 13:38


(3.75 điểm, 4 người bầu)
Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
x Thao tác
 
 
 
Than rằng:
Chùa Phổ Cứu trăng dìu gió dặt ngỡ một ngày nên nghĩa trăm năm;
Doành Đào Nguyên nước chảy hoa trôi bỗng nửa bước chia đường đôi ngả.

Chữ chung tình nghĩ lại ngậm ngùi;
Câu vĩnh quyết đọc càng buồn bã.


...

» Xem toàn bộ bài thơ



Nguồn: http://www.truyenkieu.inf...forum/viewtopic.php?t=234
 
 






RSS © 2004-2013 annonymous