Thi viện

Quên mật khẩu | Đăng ký

298 người đang online (2 thành viên)

 

» Kết quả bầu chọn: Những bài thơ Đường bạn yêu thích nhất Tìm nhanh:      Góp ý



Đỗ Phủ - 杜甫  x x

Thơ » Trung Quốc



Đỗ Phủ

» Hiện danh sách 37 người yêu thích
» Hiện danh sách 2 bài viết liên quan tới tác giả Đỗ Phủ trong Thư viện bài viết
- Ẩn tiểu sử tác giả
1. Cuộc đời thăng trầm của một thi thánh:

Đỗ Phủ 杜甫 (712-770) tự Tử Mĩ, hiệu Thảo Đường, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng Tẩu, Đỗ Công Bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại lâu đời ở huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Cha là Đỗ Nhàn, có làm quan.

Thời niên thiếu tính từ năm 712 khi ông mới chào đời cho đến năm 746 kết thúc đợt ngao du lần thứ ba, với khoảng thời gian 35 năm, Đỗ Phủ sống giữa thời kỳ phồn vinh của xã hội phong kiến thời Đường. Công việc chính của ông lúc này là làm thơ, ngao du sơn thủy. Với trí thông minh hơn người, Đỗ Phủ bắt đầu sáng tác thơ ca vào lúc bẩy tuổi. Tài cộng với sự cần cù nhẫn nại: "Đọc sách vỡ muôn quyển, Hạ bút như có thần" (Phụng tặng Vi tả thừa trượng nhị thập nhị vận) khiến ông đến năm mười bốn tuổi đã trở thành nhà thơ trẻ được các bậc đàn anh mến phục.

Ông còn được các nhà tinh thông âm luật như Lý Phạm, Thôi Điều, danh ca Lý Quy Niên,... mến chuộng. Điều đó chứng tỏ ông còn là một nhà thẩm âm thành thạo.

Năm hai mươi tuổi, đúng vào thời kỳ cực thịnh của thời Đường, "Đi xa không phải chọn ngày tốt", Đỗ Phủ bắt đầu đi ngao du trước sau ba lần với khoảng thời gian trên dưới mười năm.

Lần thứ nhất ông đi suốt cả vùng Ngô Việt, Kim Lăng, Tường Châu, Tô Châu, Sơn Âm, Tiền Đường. Năm hai mươi bốn tuổi, ông trở về Lạc Dương thi tiến sĩ. Tuy thi hỏng nhưng ông rất bình thản, tiếp tục cuộc sống ngao du.

Lần thứ hai ông đến vùng Tề Triệu, một dải Hà Nam, Sơn Đông, Hà Bắc, ngao du và săn bắt là việc làm chính của ông trong thời kỳ này. Năm 744, ông gặp Lý Bạch tại Lạc Dương. Đại thi hào Lý Bạch hơn ông mười một tuổi lúc này mới từ Trường An trở về vì sự dèm pha của Cao Lực Sĩ.

Lần thứ ba Đỗ Phủ cùng Lý Bạch, Cao Thích rủ nhau đi săn bắn, uống rượu ngâm thơ, thăm hỏi kẻ ẩn sĩ gần xa. Mùa thu năm sau (745) hai người chia tay tại quận Lỗ (Duyện Châu, Sơn Đông). Từ đó hai người không gặp nhau lần nào nữa, nhưng tình bạn thì gắn bó suốt đời...

Những năm ngao du sơn thủy này đã bồi dưỡng tinh thần lạc quan yêu đời và lòng dũng cảm, góp phần làm phong phú nội dung và phong cách thơ ca của Đỗ Phủ. Những bài thơ của Đỗ Phủ sáng tác trong thời kỳ này được truyền lại không nhiều nhưng những bài như: Họa ưng, Vọng nhạc, Tráng du, Phòng binh tào hồ mã,... cho thấy phần nào tài năng xuất chúng của nhà thơ từ những ngày còn trẻ.

Năm 746, sau khi chia tay Lý Bạch, Đỗ Phủ trở về Trường An, kết thúc quãng đời ngao du đó đây. Lần này ông trở về không ngoài mục đích thực hiện hoài bão từ lâu ấp ủ trong lòng: "Trí quân Nghiêu Thuấn thượng, Tái sử phong tục thuần" (Phụng tặng Vi tả thừa trượng nhị thập nhị vận). Đó chính là ước mơ và lý tưởng chính trị của ông. Theo ông thì đó là con đường duy nhất để thực hiện lý tưởng đó là phải thi đỗ và làm quan. Nhưng tiếc thay, đến đâu ông cũng vấp phải trở ngại. Lúc này Đường Huyền Tông bỏ bê triều chính, giao phó mọi việc cho hai tên gian thần là Lý Lâm Phủ và Dương Quốc Trung. Tuy Đường Huyền Tông hạ chiếu ai có tài thì đi dự thi, nhưng trong khóa thi này Tể tướng Lý Lâm Phủ đánh hỏng hết tất cả các thí sinh để khoe rằng trong những khóa thi trước y sáng suốt lựa chọn hết nhân tài, nên bây giờ chẳng còn một ai và đây cũng là dịp để Lý Lâm Phủ chặn đường tiến cử hiền tài, nhằm củng cố thế lực của phe cánh y. Đỗ Phủ cũng như những thí sinh khác trong đó có Nguyên Kết, một nhà thơ nổi tiếng thời Đường bị đánh hỏng. Từ đây Đỗ Phủ nhận thức đầy đủ hơn bộ mặt chính trị nhà Đường do bọn gian quan nịnh thần khống chế. Để tìm lối thoát, nhiều lần ông gặp gỡ, dâng thư cho các bậc quyền quý mong được tiến cử, nhưng không có kết quả mà cuộc sống thì ngày càng nghèo khốn.

Năm 751, nhân Đường Huyền Tông cử hành đại lễ, Đỗ Phủ dâng lên "Tam đại lễ phú", được Đường Huyền tông khen ngợi cho ghi tên vào Tập hiền viện, chờ bổ dụng nhưng vì bị Lý Lâm Phủ cản trở nên Đỗ Phủ chờ mãi vẫn không có tin gì. Mãi đến năm 755, Đỗ Phủ được bổ làm Hà Tây huyện úy. Mặc dù bao năm sống khổ cực ở đất Trường An nhưng Đỗ Phủ quyết không nhậm chức vì chức huyện úy này buộc ông phải cúi đầu vâng lệnh quan trên, đánh đập kẻ dưới. Bị ông cự tuyệt giai cấp thống trị nhà Đường giao cho ông chức quản lý kho quân giới. Thật mỉa mai thay, một con người nuôi hy vọng giúp vua vượt Nghiêu Thuấn giờ đây chỉ làm anh quản lý kho! Đỗ Phủ nhận chức, ông xin phép về huyện Phụng Tiên thuộc tỉnh Thiểm Tây thăm gia đình. Có ngờ đâu khi vừa về đến nhà thì đứa con trai đã chết đói.

Từ năm 746 đến năm 755, vì thất ý trên con đường công danh, lại thêm cuộc sống gian nan cực khổ, Đỗ Phủ đã sáng tác hàng loạt bài thơ giàu tính hiện thực xúc động lòng người. Lệ nhân hành, Binh xa hành, Xuất tái, Vịnh hoài ngũ bách tự,... đánh dấu khởi điểm mới trong sáng tác của nhà thơ, một bước phát triển mới trong phong cách sáng tác hiện thực phê phán.

Trong số những bài thơ sáng tác thời kỳ này có thể kể bài "Tự kinh phó Phụng Tiên vịnh hoài ngũ bách tự" là bài thơ tổng kết mười năm khốn khổ trên đất Trường An của ông.

Cùng lúc Đỗ Phủ ra làm quan thì thời cuộc cũng có những biến đổi lớn lao. Tháng 11 năm 755, An Lộc Sơn nổi loạn ở Phạm Dương và nhanh chống đánh xuống Lạc Dương, Đồng Quan, Trường An. Tháng 8 năm 756, nghe tin Lý Hanh con của Đường Minh Hoàng lên ngôi ở Linh vũ lấy hiệu Đường Túc Tông, Đỗ Phủ tìm Túc Tông. Giữa đường ông bị giặc bắt giải về Trường An. Nửa năm trời sống trong vùng địch tận mắt thấy cảnh đất nước bị dày xéo, ông viết khá nhiều bài thơ lâm ly, thống thiết như: Bi Trần Đào, Bi Thanh Bản, Xuân vọng, Ai giang đầu,...

Tháng giêng năm Chí Đức thứ nhất (756), không chịu hợp tác với giặc, Đỗ Phủ không quản nguy hiểm tìm đường chốn khỏi Trường An tìm về Phụng Tường, nơi chính quyền mới đóng. Đỗ Phủ được giữ chức Tả thập di. Tháng 9 năm 757, quân nhà Đường lấy lại được Trường An, Đỗ Phủ bèn đưa gia quyến về Trường An.

Ở Trường An không được bao lâu, vì dâng sớ cứu Phùng Quán thua trận Trần Đào, nên Đỗ Phủ bị gian thần hãm hại. Tháng 6 năm 758, ông bị biếm ra làm Tư công tham quân, một chức quan coi việc tế tự nghi lễ ở Hoa Châu. Mùa xuân năm 759, trên đường từ Lạc Dương đi Hoa Châu, nhìn thấy cảnh đau thương vô hạn của nhân dân ông viết sáu bài thơ nổi tiếng "Tam biệt" và "Tam lại" được người đời truyền tụng.

Tháng 7 năm 759, Đỗ Phủ xin từ quan đưa gia đình từ Hoa Châu đến Đồng Cốc. Tại đây, ông phải đi lượm hạt dẻ, đào hoàng tinh bao phen trở về tay không, con cái đói meo kêu khóc. Ông làm bảy bài "Càn Nguyên Đồng Cốc huyện tác ca" than thở cảnh khốn cùng lưu lạc, xa cách anh em. Chưa đầy hai tháng, ông lại từ Đồng Cốc đến Thành Đô - Tứ Xuyên. Mùa xuân năm 760, nhờ sự giúp đỡ của bạn bè ông dựng mái nhà tranh bên suối Hoãn Hoa, đặt tên là Thảo Đường. Ông gửi thư đi các nơi xin đào, lý, mai, cúc,... các thứ cỏ hoa về trồng. Thảo Đường ở phía tây, quay lưng vào quách Thành Đô, ngoài là đường Thạch Tuân, phường Bích Khê, phía bắc đầm Bách Hoa, phía tây cầu Vạn Lý, suối Hoãn Hoa, gần sông Cẩm, phía tây bắc trông ra núi Tây Lĩnh quanh năm tuyết phủ. Phong cảnh hữu tình, ngôi nhà nhỏ càng đượm màu thanh nhã...

Lúc này Thành Đô chưa có nạn binh đao. Ông được sống những ngày thư thái, đánh cờ với vợ, câu cá cùng con, uống rượu với người trong xóm. Ông sinh sống bằng chính mảnh đất của mình, trồng cây thuốc cây ngô. Thế là trong sáng tác xuất hiện một khoảng trời nghệ thuật mới với vẻ đẹp đẹp hoà bình, êm ả của thiên nhiên, xoa dịu những vất vả đắng cay trong cơn loạn lạc. Sáng tác thời kỳ này của ông chủ yếu là thể loại tuyệt cú, tả cảnh điền viên sơn thuỷ và gửi gắm ước mơ trở về cố hương...

Tuy nhiên cảnh yên bình ấy không kéo dài được lâu. Mùa thu năm ấy, một cơn gió lốc lật mất mái tranh Thảo Đường, ông làm bài thơ nổi tiếng "Mao ốc vi thu phong sở phá ca", mơ ước "Có ngôi nhà lớn muôn gian để che chở cho kẻ nghèo khắp thiên hạ. Bao giờ nhà lớn sừng sững hiện ra, riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được". Đầu năm Bảo Ứng (762) vì loạn ông đưa gia đình chạy loạn khắp nơi, gần hai năm sau mới trở về lại mái nhà tranh ở Thành Đô. Được Nghiêm Vũ tiến cử, Đỗ Phủ nhận chức Kiểm hiệu công bộ viên ngoại lang. Nghiêm Vũ mất, ông cũng thôi việc. Lúc này bao bạn thân của ông như Lý Bạch, Cao Thích lần lượt từ giã cõi đời, để lại cho ông nỗi buồn vô hạn. Ông lại phiêu bạt tới vùng Quỳ Châu.

Qua bao nhiêu năm lưu lạc gian nan, giờ đây sức yếu, tuổi già, ông thường xuyên bị bệnh. Quỳ Châu là nơi có nhiều di tích nổi tiếng như thành Bạch Đế, Bát trận đồ của Gia Cát Võ Hầu, nhà Tống Ngọc, Dữu Tín,... nên ông làm năm bài "Chư tướng", năm bài "Vịnh hoài cổ tích", tám bài "Thu hứng" nổi tiếng. Trong hai năm ở Quỳ Châu ông sáng tác 437 bài thơ, chiếm ba phần mười toàn bộ thơ ca của ông, thơ luật chiếm đa số. Chất hiện thực trong thơ ông không thay đổi, vẫn dạt dào tình cảm yêu nước, yêu dân, tuy âm điệu có phần bi thương hơn trước. Ông bỏ công làm thơ luật nhiều hơn trước và đã đẽo gọt, đưa thơ luật lên đến đỉnh cao của nó.

Năm Đại Lịch thứ 3 (768), Đỗ Phủ rời Quỳ Châu, lênh đênh trôi dạt khắp nơi đến Giang Lăng, Công An (Hồ Bắc), Nhạc Châu (Nhạc Dương, Hồ Bắc), rồi theo sông Tương ra Đàm Châu (Tương Đàm, Hồ Nam). Ở đây ông gặp lại danh ca Lý Quy Niên và làm bài tuyệt cú "Giang Nam phùng Lý Quy Niên" nổi tiếng. Đàm Châu có loạn, Đỗ Phủ lại cùng vợ con xuống thuyền đi Hành Châu (Hành Dương, Hồ Nam), dự định theo sông Hán về Trường An. Cuộc sống đói rét, bệnh tật, phiêu bạt cứ dày vò nhà thơ mãi. Mùa đông năm 770, bệnh tật nằm trên thuyền nghe gió thổi, Đỗ Phủ làm bài thơ ba mươi sáu vần "Phong tật chu trung phục chẩm thư hoài". Đó cũng là thiên tuyệt bút của nhà thơ, vì chẳng bao lâu sau, mùa đông năm Đại Lịch thứ năm (770), Đỗ Phủ nhắm mắt lìa đời trong chiếc thuyền rách nát lênh đênh trên sông Tương. Những bước thăng trầm mà trầm nhiều hơn thăng của cuộc đời nhà thơ kết thúc.

Các nhà thơ Đường hiếm có ai nghèo khổ, lao đao và chịu ảnh hưởng của chiến tranh và loạn lạc nhiều như ông. Sau khi Đỗ Phủ tạ thế, gia nhân vì nghèo túng quá, đành phải tạm đặt linh cữu thi sĩ tại Nhạc Châu (Nhạc Dương, Hoài Nam). Đến đời cháu là Đỗ Tự Nghiệp, mới đến Nhạc Châu, đem linh thần về táng tại chân núi Thủ Dương, ở Lạc Dương (Hà Nam), gần mộ Đỗ Dự và Đỗ Thẩm Ngôn.

Khi Đỗ Tự Nghiệp đưa linh thân Đỗ Phủ qua Kinh Châu, có gặp thi sĩ Nguyên Chẩn trên đường đi. Nguyên Chẩn viết một bài minh đề trên mộ Đỗ Phủ, nói rằng: "Từ khi có thi nhân đến giờ, không có ai vĩ đại bằng Tử Mỹ!". Đúng thế, Đỗ Phủ chẳng những vĩ đại đối với Trung Quốc mà còn vĩ đại đối với cả nhân loại nữa...


2. Tác phẩm:

Thơ Đỗ Phủ tập trung biểu hiện ba khía cạnh chủ yếu: tinh thần phản kháng cường quyền, lòng yêu thương nhân dân và nhiệt tình yêu nước thiết tha. Thường trong nhiều bài, ba nội dung ấy gắn bó với nhau, hỗ trợ cho nhau tạo nên giá trị hiện thực của thơ ca Đỗ Phủ. Tất cả đều xoay quanh một trục thống nhất là bản thân ông. Từ chính những khổ đau của bản thân mình, ông hoà chung nỗi đau của riêng mình với nỗi đau của nhân dân, của đất nước. Thơ ca của Đỗ Phủ chính là những thiên ký sự về đời ông, một cuộc đời thăng trầm mà trầm nhiều hơn thăng.

Tuy chưa thoát khỏi thế giới quan của tư tưởng Nho gia hẹp hòi, nhưng đó là những hạn chế có tính chất thời đại, thơ ca của Đỗ Phủ không vì thế mà giảm đi giá trị của nó. Nhà thơ vẫn hoàn thành sứ mệnh nghệ thuật của mình một cách vẻ vang.

Đỗ Phủ kiêm gồm nhiều thể thơ từ ngũ ngôn đến thất ngôn, cổ thể đến cận thể mà qua tay ông đều trở nên xuất sắc, nhuần nhuyễn. Thơ ông được dụng công gọt dũa rất công phu: "Làm người tính thích câu thơ đẹp, Đọc chẳng kinh người chết chẳng thôi" (Hí vi lục tuyệt cú). Ông sở trường về thơ ngũ ngôn, vốn là thể khó làm hay vì câu thơ ngắn, nhịp điệu đơn giản. Nhưng ông vẫn khéo truyền nỗi lòng chân thật, tha thiết vào thơ, nên những bài thơ ngũ ngôn của ông dù rất dài như "Vịnh hoài bách ngũ tự", "Tráng du", "Thuật hoài",... vẫn đầy sức gợi cảm. Thơ thất ngôn đến tay ông mới thật sự đạt đến đỉnh cao, đặc biệt là thơ luật, được ông chăm sóc, đẽo gọt tỉ mỉ mà vẫn trôi chảy tự nhiên, ít ai bì kịp. Đỗ Phủ làm thơ rất dụng công, đúng như ông đã nói "Ngữ bất kinh nhân tử bất hưu" (Lời lẽ chưa kinh động lòng người thì chết chẳng yên). Hơn nữa, Đỗ Phủ nắm rất vững thanh vận trong ngôn ngữ Trung Quốc và sử dụng nó để phát huy được sức thể hiện và truyền cảm của thơ. Có những bài thơ dài hàng chục đến trăm câu, ông chỉ dùng độc vận, hoặc cũng có thể trong một bài ngắn ông lại đổi vần. Dùng vần trắc hay vần bằng ông đều có chủ định. Đỗ Phủ còn sáng tạo những hình ảnh thi vị, mới mẻ, giàu sức truyền cảm, sáng tạo những ý cảnh, khí phách rộng lớn. Ông thật xứng với danh xưng "Thi thánh" mà người đời sau tôn tặng.

Đỗ Phủ tiếp thu có chọn lọc, kế thừa có phát huy những thành quả văn học quá khứ rồi hun đúc thành cái của mình, sáng tạo và mới mẻ. Nguyên Chẩn đời sau đánh giá: "Đỗ Tử Mỹ, trên thì làm mờ cả Phong Tao (Thi kinh, Sở từ), dưới thì kiêm cả Thẩm-Tống (Thẩm Thuyên Kỳ, Tống Chi Vấn), lời thơ vượt cả Tô-Lý (Tô Vũ, Lý Lăng), khí thơ nuốt cả Tào-Lưu (Tào Thực, Lưu Côn), che khuất đỉnh cao Nhan-Tạ (Nhan Diên, Tạ Linh Vận), nhuộm cả dòng thắm Dữu-Từ (Dữu Tín, Từ Lăng), có được tất cả thể chế của cổ kim, và hết thảy cái đặc sắc của từng thi sĩ. Người làm thơ xưa nay chưa từng có ai như Đỗ Tử Mỹ" (Đường cố kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang Đỗ quân mộ hệ minh).

Đỗ Phủ để lại cho đời hơn 1400 bài thơ, phân thành hai loại lớn: cổ thể thi và cận thể thi. Cổ thể thi là loại thơ tự do, cận thể thi là loại thơ cách luật.
- Cổ thể thi: 416 bài trong đó ngũ ngôn cổ thể 271 bài, thất ngôn cổ thể 145 bài.
- Cận thể thi: 1037 bài trong đó luật thi có 772 bài, bài luật có 127 bài, tuyệt cú có 138 bài (31 bài ngũ ngôn, 107 bài thất ngôn).

Các tác phẩm thơ của Đỗ Phủ được dịch và in thành sách ở Việt Nam:
- Thơ Đỗ Phủ/ NXB Văn Học, 1962
- Thơ Đỗ Phủ/ Nhượng Tống dịch/ NXB Văn Học, 1996
- Đỗ Phủ, nhà thơ thánh với hơn một nghìn bài thơ/ Phan Ngọc dịch/ NXB Văn Hoá Thông Tin, 2001
- Thơ Đỗ Phủ/ Nhiều người dịch/ NXB Thanh Niên, 2004


Tham khảo: dựa theo "Đường thi nhất thiên thủ" của Lê Nguyễn Lưu và "Lịch sử văn học Trung Quốc" của Trần Xuân Đề

[Gửi ngày 05/05/2005 18:35 bởi Admin. Sửa 6 lần, lần cuối ngày 21/10/2008 12:55 bởi hongha83.]


1. Ai giang đầu164. Hữu hoài Thai châu Trịnh thập bát tư hộ Kiền327. Tần Châu tạp thi kỳ 11
2. Ai vương tôn165. Hữu khách328. Tần Châu tạp thi kỳ 12
3. Ác thụ166. Hựu tống329. Tần Châu tạp thi kỳ 13
4. Đan thanh dẫn - Tặng Tào Bá tướng quân167. Hựu thượng hậu viên sơn cước330. Tần Châu tạp thi kỳ 14
5. Đài thượng168. Hựu trình Ngô lang331. Tần Châu tạp thi kỳ 15
6. Đào nạn169. Hựu tuyết332. Tần Châu tạp thi kỳ 16
7. Đông Đồn bắc yêm170. Hỷ đạt hành tại sở kỳ 1333. Tần Châu tạp thi kỳ 17
8. Đông Đồn nguyệt dạ171. Hỷ đạt hành tại sở kỳ 2334. Tần Châu tạp thi kỳ 18
9. Đông cảnh172. Hỷ đạt hành tại sở kỳ 3335. Tần Châu tạp thi kỳ 19
10. Đông lâu173. Hỉ vũ336. Tần Châu tạp thi kỳ 20
11. Đông nhật hữu hoài Lý Bạch174. Hiểu phát Công An sổ nguyệt khế tức thử huyện337. Tẩy binh mã
12. Đông thâm175. Hiểu vọng338. Tặng Cao Thức Nhan
13. Đông thú hành176. Hoa áp339. Tặng Hoa khanh
14. Đại mạch hành177. Hoàng Hà kỳ 1340. Tặng Lý Bạch (I)
15. Đảo y178. Hoàng Hà kỳ 2341. Tặng Lý Bạch (II)
16. Đấu kê179. Hoàng thảo342. Tặng Vệ bát xử sĩ
17. Đầu giản Hàm, Hoa lưỡng huyện chư tử180. Hoạ Bùi Địch "Đăng Tân Tân tự ký Vương thị lang"343. Tặng Vi thất tán Thiện
18. Đắc xá đệ Quan thư181. Hoạ Giả Chí xá nhân "Tảo triều Đại Minh cung" chi tác344. Tức sự
19. Đắc xá đệ tiêu tức kỳ 3182. Hoạ ưng345. Từ bộ
20. Đề Huyền Vũ thiền sư ốc bích183. Huề kỹ nạp lương vãn tế ngộ vũ kỳ 1346. Từ nam tịch vọng
21. Đề phong184. Huề kỹ nạp lương vãn tế ngộ vũ kỳ 2347. Tử quy
22. Đề Trương thị ẩn cư kỳ 1185. Huỳnh hoả348. Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh hoài ngũ bách tự
23. Đề Trương thị ẩn cư kỳ 2186. Kỷ349. Tự kinh soán chí Phượng Tường hỷ đạt hành tại sở kỳ 1
24. Đối tuyết (I)187. Ký Đỗ Vị350. Tối năng hành
25. Đối tuyết (II)188. Ký đề giang ngoại thảo đường351. Tống hàn lâm Trương tư mã Nam Hải lặc bi
26. Đối vũ189. Ký Cao Thích352. Tống Khổng Sào Phủ tạ bệnh quy du Giang Đông, kiêm trình Lý Bạch
27. Đồng bình190. Ký Hàn gián nghị353. Tống Lộ lục Thị Ngự nhập triều
28. Đồng chư công "Đăng Từ Ân tự tháp"191. Ký Lý Bạch nhị thập vận354. Tống Vi Phúng thướng Lãng Châu lục sự tham quân
29. Đồng Quan lại192. Khách đình355. Tống viễn
30. Độc chước193. Khách chí356. Thanh Dương hạp
31. Độc lập194. Khách dạ357. Thanh minh kỳ 1
32. Độc toạ195. Khách tòng358. Thanh minh kỳ 2
33. Động phòng196. Khê thượng359. Thanh ty
34. Đăng Bạch Mã đàm197. Không nang360. Thành Đô phủ
35. Đăng cao198. Khúc giang đối tửu361. Thành Tây pha phiếm chu
36. Đăng Duyện Châu thành lâu199. Khúc giang đối vũ362. Thái tử Trương xá nhân di chức thành nhục đoạn
37. Đăng lâu200. Khúc giang kỳ 1363. Thán đình tiền cam cúc hoa
38. Đăng Ngưu Đầu sơn đình tử201. Khúc giang kỳ 2364. Thê thành tây nguyên tống Lý phán quan huynh, Vũ phán quan đệ phó Thành Đô phủ
39. Đăng Nhạc Dương lâu202. Khúc giang tam chương, chương ngũ cú365. Thích muộn
40. Đoản ca hành tặng Vương lang tư trực203. Khả tích366. Thôi Tông Văn thụ kê sách
41. Đường thành204. Khứ Thục367. Thôn dạ
42. Ức ấu tử205. Khứ thu hành368. Thôn vũ
43. Ức đệ kỳ 1206. Khổ chiến hành369. Thù Mạnh Vân Khanh
44. Ức đệ kỳ 2207. Khiên Ngưu - Chức Nữ370. Thạch Cự các
45. Ba sơn208. Khiển ý kỳ 2371. Thạch Hào lại
46. Ba Tây dịch đình quan giang trướng, trình Đậu sứ quân209. Khiển hứng (I)372. Thạch Khám
47. Ba Tây dịch đình quan giang trướng, trình Đậu sứ quân kỳ 2210. Khiển hứng (II)373. Thảo đường
48. Bành Nha hành211. Khiển hứng tam thủ kỳ 1374. Thảo đường tức sự
49. Bách thiệt212. Khiển hoài375. Thảo các
50. Bách ưu tập hành213. Khương thôn kỳ 1376. Thần vũ
51. Bát trận đồ214. Khương thôn kỳ 2377. Thập lục dạ ngoạn nguyệt
52. Bạc mộ215. Khương thôn kỳ 3378. Thập thất dạ đối nguyệt
53. Bạch Đế216. Kiến huỳnh hoả379. Thục tướng
54. Bạch Đế hoài cổ217. Lâm Ấp xá đệ thư chí khổ vũ Hoàng Hà phiếm dật chỉ phòng chi hoạn bộ lĩnh sở ưu nhân ký thử thi dụng khoan kỳ ý380. Thị lão nô A Đoạn
55. Bạch Đế thành tối cao lâu218. Lôi381. Thiên biên hành
56. Bạch Diêm sơn219. Lạc Dương382. Thiên Dục phiêu kỵ ca
57. Bạch mã220. Lạc nhật383. Thiên hà
58. Bạch Sa độ221. Lập thu hậu đề384. Thiên mạt hoài Lý Bạch
59. Bạch ty hành222. Lữ dạ thư hoài385. Thiếu niên hành
60. Bất kiến223. Lệ nhân hành386. Thu địch
61. Bất ly Tây Các kỳ 1224. Liễu biên387. Thu dã kỳ 1
62. Bất ly tây các kỳ 2225. Long Môn các388. Thu dã kỳ 2
63. Bất mị226. Lưu Cửu pháp tào Trịnh Hà Khâu Thạch Môn yến tập389. Thu hứng kỳ 1
64. Bất quy227. Lưu Hoa Môn390. Thu hứng kỳ 2
65. Bần giao hành228. Mao ốc vị thu phong sở phá ca391. Thu hứng kỳ 3
66. Bắc chinh229. Mạc tương nghi hành392. Thu hứng kỳ 4
67. Bốc cư230. Mạn hứng kỳ 1393. Thu hứng kỳ 5
68. Bồi giang phiếm chu tống Vi Ban quy kinh231. Mạn hứng kỳ 2394. Thu hứng kỳ 6
69. Bồi Trịnh Quảng Văn du Hà tướng quân sơn lâm kỳ 1232. Mạn hứng kỳ 3395. Thu hứng kỳ 7
70. Bệnh mã233. Mạn hứng kỳ 4396. Thu hứng kỳ 8
71. Bệnh quất234. Mạn hứng kỳ 5397. Thu nhật Kinh Nam thuật hoài tam thập vận
72. Bi Thanh Bản235. Mạn hứng kỳ 6398. Thu phong kỳ 2
73. Bi Trần Đào236. Mạn hứng kỳ 7399. Thu tận
74. Biệt Phòng thái uý mộ237. Mạn hứng kỳ 8400. Thu thanh
75. Biệt Tán thượng nhân238. Mạn hứng kỳ 9401. Thu vũ thán kỳ 1
76. Binh xa hành239. Mạn thành402. Thu vũ thán kỳ 2
77. Cam lâm240. Mộ quy403. Thu vũ thán kỳ 3
78. Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 1241. Mộng Lý Bạch kỳ 1404. Thuật hoài
79. Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 2242. Mộng Lý Bạch kỳ 2405. Thuỳ lão biệt
80. Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 3243. Nam Cực406. Thuỷ Hội độ
81. Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 4244. Nam chinh407. Thuyền há Quỳ Châu quách túc, vũ thấp bất đắc thượng ngạn, biệt Vương thập nhị phán quan
82. Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 5245. Nam lân408. Thướng Ngưu Đầu tự
83. Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 6246. Nam Sở409. Thương xuân kỳ 1
84. Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 7247. Nam thụ vị phong vũ sở bạt thán410. Thương xuân kỳ 2
85. Các dạ248. Ngũ Bàn411. Thương xuân kỳ 4
86. Cô nhạn - Hậu phi nhạn249. Ngẫu đề412. Tiền xuất tái kỳ 1
87. Công An tống Vi nhị thiếu phủ Khuông Tán250. Ngọc Đài quán413. Tiền xuất tái kỳ 2
88. Cù Đường hoài cổ251. Nguỵ tướng quân ca414. Tiền xuất tái kỳ 3
89. Cù Đường lưỡng nhai252. Nguyên nhật thị Tông Vũ415. Tiền xuất tái kỳ 4
90. Cầm đài253. Nguyệt416. Tiền xuất tái kỳ 5
91. Cửu khách254. Nguyệt - Tàn dạ thuỷ minh lâu417. Tiền xuất tái kỳ 6
92. Cửu nhật255. Nguyệt dạ418. Tiền xuất tái kỳ 7
93. Cửu nhật đăng Tử Châu thành256. Nguyệt dạ ức xá đệ419. Tiền xuất tái kỳ 8
94. Cửu nhật Lam Điền Thôi thị trang257. Nhân Thôi Ngũ thị ngự ký Cao Bành châu nhất tuyệt420. Tiền xuất tái kỳ 9
95. Cửu nhật ngũ thủ kỳ 1258. Nhĩ lung421. Tiểu hàn thực chu trung tác
96. Cổ bách hành259. Nhập Kiền Khẩu422. Tinh truỵ Ngũ Trượng nguyên
97. Chí Đức nhị tải, Phủ tự kinh Kim Quang môn xuất, gian đạo quy Phụng Tường, Càn Nguyên sơ tòng Tả thập di di Hoa Châu duyện, dữ thân cố biệt, nhân xuất thử môn, hữu bi vãng sự260. Nhật mộ423. Tráng du
98. Chú mộng261. Pháp Kính tự424. Trú mộng
99. Chinh phu262. Phát Đàm Châu425. Triêu kỳ 2
100. Chu phụng hành263. Phát Lang Trung426. Trung dạ
101. Chu tiền tiểu nga nhi264. Phòng binh Tào Hồ mã427. Trung thu
102. Chu trung dạ tuyết hữu hoài Lư Thập Tứ thị ngự đệ265. Phóng thuyền428. Trường Sa tống Lý thập nhất Hàm
103. Chư tướng kỳ 1266. Phụ tân hành429. Trượng Nhân sơn
104. Chư tướng kỳ 2267. Phục sầu kỳ 01430. Tuế án hành
105. Chư tướng kỳ 3268. Phục sầu kỳ 02431. Tuế mộ
106. Chư tướng kỳ 4269. Phục sầu kỳ 03432. Tuý ca hành - Biệt tòng điệt Cần lạc đệ quy, cần nhất tác khuyến
107. Chư tướng kỳ 5270. Phục sầu kỳ 04433. Tuý thì ca
108. Cuồng ca hành tặng tứ huynh271. Phục sầu kỳ 05434. Tuyệt cú
109. Cuồng phu272. Phục sầu kỳ 06435. Tuyệt cú lục thủ kỳ 1
110. Dã lão273. Phục sầu kỳ 07436. Tuyệt cú lục thủ kỳ 2
111. Dã vọng (I)274. Phục sầu kỳ 08437. Tuyệt cú lục thủ kỳ 3
112. Dã vọng (II)275. Phục sầu kỳ 09438. Tuyệt cú lục thủ kỳ 4
113. Dạ - Tuyệt ngạn phong uy động276. Phục sầu kỳ 10439. Tuyệt cú lục thủ kỳ 5
114. Dạ quy277. Phục sầu kỳ 11440. Tuyệt cú lục thủ kỳ 6
115. Dạ yến Tả thị trang278. Phục sầu kỳ 12441. Tuyệt cú nhị thủ kỳ 1
116. Dữ Chu sơn nhân279. Phụng tặng Vi tả thừa trượng nhị thập nhị vận442. Tuyệt cú nhị thủ kỳ 2
117. Dữ Nghiêm nhị lang Phụng Lễ biệt280. Phụng tế dịch trùng tống Nghiêm công tứ vận443. Tuyệt cú tam thủ 1 kỳ 1
118. Dữ Nhiệm Thành Hứa chủ bạ du nam trì281. Phi Tiên các444. Tuyệt cú tam thủ 1 kỳ 2
119. Di cư Công An sơn quán282. Phiếm giang445. Tuyệt cú tam thủ 1 kỳ 3
120. Diêm tỉnh283. Phong tật chu trung phục chẩm thư hoài tam thập lục vận, phụng Trình Hồ Nam thân hữu446. Tuyệt cú tam thủ 2 kỳ 1
121. Du Long Môn Phụng Tiên tự284. Phược kê hành447. Tuyệt cú tam thủ 2 kỳ 2
122. Du Tu Giác tự285. Quan Công Tôn đại nương đệ tử vũ kiếm khí hành448. Tuyệt cú tam thủ 2 kỳ 3
123. Giai nhân286. Quan Lý Cố Thỉnh tư mã đệ sơn thuỷ đồ kỳ 1449. Tuyệt cú tam thủ 3 kỳ 1
124. Giang đình287. Quan Lý Cố Thỉnh tư mã đệ sơn thuỷ đồ kỳ 2450. Tuyệt cú tam thủ 3 kỳ 2
125. Giang bạn độc bộ tầm hoa kỳ 1288. Quan Lý Cố Thỉnh tư mã đệ sơn thuỷ đồ kỳ 3451. Tuyệt cú tam thủ 3 kỳ 3
126. Giang bạn độc bộ tầm hoa kỳ 2289. Quan Trì xuân nhạn kỳ 1452. Tuyệt cú tứ thủ kỳ 1
127. Giang bạn độc bộ tầm hoa kỳ 3290. Quan Trì xuân nhạn kỳ 2453. Tuyệt cú tứ thủ kỳ 2
128. Giang bạn độc bộ tầm hoa kỳ 4291. Quang Lộc bản hành454. Tuyệt cú tứ thủ kỳ 3
129. Giang bạn độc bộ tầm hoa kỳ 5292. Quách Quốc phu nhân455. Tuyệt cú tứ thủ kỳ 4
130. Giang bạn độc bộ tầm hoa kỳ 6293. Quy mộng456. Tương phó Kinh Nam, ký biệt Lý Kiếm Châu
131. Giang bạn độc bộ tầm hoa kỳ 7294. Quy nhạn457. Tương phu nhân từ
132. Giang Hán295. Sầu - Cưỡng hí vi Ngô thể458. Vân sơn
133. Giang mai296. Sầu toạ459. Vãn tình
134. Giang Nam phùng Lý Quy Niên297. Song Phong phố460. Vũ - Thuỷ hạ thiên hưu vũ
135. Giang nguyệt298. Song yến461. Vũ bất tuyệt
136. Giang thôn299. Sơ đông462. Vũ kỳ 1
137. Giang thôn tức sự kỳ 1300. Sơ nguyệt463. Vũ miếu
138. Giang thượng301. Sơn tự464. Vũ quá Tô Đoan - Đoan trí tửu
139. Giang thượng trị thuỷ như hải thế liêu đoản thuật302. Tao điền phụ nê ẩm mỹ Nghiêm trung thừa465. Vô gia biệt
140. Giáp khẩu kỳ 2303. Tàm cốc hành466. Vạn Trượng đàm
141. Giải muộn kỳ 01304. Tái Lô Tử467. Vọng nhạc (I)
142. Giải muộn kỳ 02305. Tân An lại468. Vọng Nhạc (II)
143. Giải muộn kỳ 03306. Tân chí469. Vịnh hoài cổ tích kỳ 1 (Dữu Tín gia)
144. Giải muộn kỳ 05307. Tân hôn biệt470. Vịnh hoài cổ tích kỳ 2 (Tống Ngọc gia)
145. Giải muộn kỳ 09308. Tân thu471. Vịnh hoài cổ tích kỳ 3 (Vịnh Chiêu Quân)
146. Giải muộn kỳ 10309. Tây các kỳ 2472. Vịnh hoài cổ tích kỳ 4 (Vĩnh An cung, Tiên chủ miếu)
147. Giải muộn kỳ 12310. Tô Đoan, Tiết Phúc diên giản Tiết Hoa tuý ca473. Vịnh hoài cổ tích kỳ 5 (Vũ Hầu miếu)
148. Hàn Giáp311. Tông Vũ sinh nhật474. Văn quan quân thu Hà Nam, Hà Bắc
149. Hành Châu tống Lý đại phu thất trượng miễn phó Quảng Châu312. Túc Bạch Sa dịch - Sơ quá Hồ Nam ngũ lý475. Vi nông
150. Hí giản Trịnh quảng văn kiêm trình Tô tư nghiệp313. Túc phủ476. Vi Phúng lục sự trạch quan Tào tướng quân hoạ mã đồ
151. Hí vi lục tuyệt cú kỳ 1314. Tản sầu kỳ 1477. Việt Vương lâu ca
152. Hí vi lục tuyệt cú kỳ 2315. Tản sầu kỳ 2478. Vu sơn nhật tình
153. Hí vi lục tuyệt cú kỳ 3316. Tảo hoa479. Vương lục sự hứa tu thảo đường tư bất đáo liêu tiểu cật
154. Hí vi lục tuyệt cú kỳ 4317. Tần Châu tạp thi kỳ 01480. Xuân dạ hỉ vũ
155. Hí vi lục tuyệt cú kỳ 5318. Tần Châu tạp thi kỳ 02481. Xuân nhật ức Lý Bạch
156. Hí vi lục tuyệt cú kỳ 6319. Tần Châu tạp thi kỳ 03482. Xuân nhật giang thôn kỳ 1
157. Hận biệt320. Tần Châu tạp thi kỳ 04483. Xuân túc Tả tỉnh
158. Hậu du321. Tần Châu tạp thi kỳ 05484. Xuân thuỷ sinh kỳ 2
159. Hậu xuất tái kỳ 1322. Tần Châu tạp thi kỳ 06485. Xuân vọng
160. Hậu xuất tái kỳ 2323. Tần Châu tạp thi kỳ 07486. Xuy địch
161. Hậu xuất tái kỳ 3324. Tần Châu tạp thi kỳ 08487. Yến tử lai chu trung tác
162. Hậu xuất tái kỳ 4325. Tần Châu tạp thi kỳ 09 
163. Hậu xuất tái kỳ 5326. Tần Châu tạp thi kỳ 10 


Trang trong tổng số 49 trang (487 bài thơ)
[1] [2] [3] [4] [5] [6] ... ›Trang sau »Trang cuối

   Ai giang đầu
 
Thể thơ: Thất ngôn cổ phong, thời kỳ: Thịnh Đường
Đã được xem 5625 lần
Đăng bởi Vanachi vào 13/06/2005 05:05
Đã sửa 5 lần, lần sửa cuối bởi Vanachi vào 29/03/2009 16:22
x Có 7 bài trả lời
x Có 2 người yêu thích


(3.67 điểm, 3 người bầu)
Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
x Thao tác
 
 
 

哀江頭

Ai giang đầu

Thương đầu sông (Người dịch: Hoàng Tạo, Tương Như)

少陵野老吞聲哭,
春日潛行曲江曲。
江頭宮殿鎖千門,
細柳新蒲為誰綠。
憶昔霓旌下南苑,
苑中萬物生顏色。
昭陽殿裡第一人,
同輦隨君侍君側。
...

Thiếu Lăng dã lão thôn thanh khốc,
Xuân nhật tiềm hành Khúc giang khúc.
Giang đầu cung điện toả thiên môn,
Tế liễu tân bồ vị thuỳ lục ?
Ức tích nghê tinh há nam uyển,
Uyển trung vạn vật sinh nhan sắc.
Chiêu Dương điện lý đệ nhất nhân,
Đồng liễn tuỳ quân tại quân trắc.
...

Ông già Thiếu Lăng nghẹn ngào khóc,
Ngày xuân thui thủi khúc sông Khúc.
Bên sông cung điện khoá nơi nơi,
Bồ liễu vì ai khoe thắm lục?
Nhớ thuở bóng cờ xuống vườn nam,
Vườn nam cảnh vật bừng sắc hương!
Trong điện Chiêu Dương người bậc nhất,
Cùng xe ngồi cạnh đức quân vương.
...

» Xem toàn bộ bài thơ

» Hiện dịch nghĩa


(Năm 757)
 
 

   Ai vương tôn
 
Thể thơ: Thất ngôn cổ phong, thời kỳ: Thịnh Đường
Đã được xem 2686 lần
Đăng bởi Vanachi vào 13/06/2005 05:16
Đã sửa 2 lần, lần sửa cuối bởi Vanachi vào 26/10/2005 05:34
x Có 4 bài trả lời
x Có 2 người yêu thích


(3 điểm, 5 người bầu)
Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
x Thao tác
 
 
 

哀王孫

Ai vương tôn

Thương vương tôn (Người dịch: Nhượng Tống)

長安城頭頭白烏,
夜飛延秋門上呼。
又向人家啄大屋,
屋底達官走避胡。
金鞭斷折九馬死,
骨肉不待同馳驅。
腰下實玦青珊瑚,
可憐王孫泣路隅。
...

Trường An thành đầu đầu bạch ô
Dạ phi Diên Thu môn thượng hô
Hựu hướng nhân gia trác đại ốc
Ốc để đạt quan tẩu tị Hồ
Kim tiên đoạn chiết cửu mã tử
Cốt nhục bất đãi đồng trì khu
Yêu hạ bảo quyết thanh san hô
Khả liên vương tôn khấp lộ ngung
...

Quạ đầu thành lông đầu trắng phớ,
Đêm bay kêu trên cửa Diên Thu.
Lại moi nhà các quan to,
Các quan chạy trốn giặc Hồ lung tung.
Chín ngựa chết, roi đồng đập gẫy,
Bỏ thịt xương, cố chạy lấy mình.
Dưới lưng vòng ngọc xanh xanh,
Góc đường ngồi khóc thương tình vương tôn.
...

» Xem toàn bộ bài thơ

» Hiện dịch nghĩa


(Năm 756)
 
 

   Ác thụ
 
Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú, thời kỳ: Thịnh Đường
Đã được xem 654 lần
Đăng bởi hongha83 vào 08/10/2012 02:41
Đã sửa 1 lần, lần sửa cuối bởi Vanachi vào 15/11/2012 03:40
x Có 2 bài trả lời
x Có 1 người yêu thích


(5 điểm, 1 người bầu)
Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
x Thao tác
 
 
 

惡樹

Ác thụ

Ghét cây (Người dịch: Phan Ngọc)

獨繞虛齋徑,
常持小斧柯。
幽陰成頗雜,
惡木剪還多。
枸杞因吾有,
雞棲奈汝何。
方知不材者,
生長漫婆娑。

Độc nhiễu hư trai kính,
Thường trì tiểu phủ kha.
U âm thành pha tạp,
Ác mộc tiễn hoàn đa.
Cẩu kỷ nhân ngô hữu,
Kê thê nại nhữ hà.
Phương tri bất tài giả,
Sinh trưởng mạn bà sa.

Mày làm chật đường lối
Ta cầm búa ở tay
Chen chúc đường rậm tối
Cây hoang chặt bỏ ngay
Cây cần ta phải giữ
Gà qué cần đến mày
Mới hay thứ vô dụng
Sao mà sống tràn đầy?



Bài này làm năm 761 khi Đỗ Phủ ở tại Thành Đô. Tác giả dùng những loại cây ác để chỉ người, muốn nói đến những người ác đương thời như Trình Nguyên Chấn 程元振, Lý Phụ Quốc 李輔國, Ngư Triều Ân 魚朝恩 là 3 hoạn quan chuyên xu nịnh sàm tấu giết hại trung thần, trước đó có Lý Lâm Phủ 李林甫 và Dương Quốc Trung 楊國忠.

Lý Lâm Phủ đã sàm tấu giết nhiều người tài như: Hoàng Phủ Duy Minh 皇甫唯明 (Lũng Hữu Tiết độ sứ), Vi Kiên 韋堅 (Tấn Vân thái thú), Lý Thích Chi 李適之 (Thái tử thiếu bảo), Dương Thận Căng 楊慎矜 (Hộ bộ thị lang), Trương Vương Tuyên 張王宣 (Thái phủ thiếu khanh), Liễu Trách Lực 柳責力 (Kiêu vệ binh tào), Đỗ Hữu Lân 杜有鄰 (Tán thiện đại phu), Lý Ung 李邕 (Bắc Hải thái thú). Những gia đình bị giết chết hơn cả trăm , hình phạt tru di tam tộc. Những kẻ xu nịnh đó là những loại ác thụ, cần phải chặt bỏ, nhưng chặt xong chúng mọc lên nhiều hơn trước.

Nguồn: Đỗ Phủ - Nhà thơ thánh với hơn một nghìn bài thơ, NXB Văn hoá thông tin, 2001
 
 

   Đan thanh dẫn - Tặng Tào Bá tướng quân
 
Thể thơ: Thất ngôn cổ phong, thời kỳ: Thịnh Đường
Từ khoá: Tào Bá
Đã được xem 1561 lần
Đăng bởi Vanachi vào 26/10/2005 08:17
Đã sửa 2 lần, lần sửa cuối bởi Vanachi vào 26/05/2006 20:09
x Có 2 bài trả lời


(2 điểm, 1 người bầu)
Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
x Thao tác
 
 
 

丹青引-贈曹霸將軍

Đan thanh dẫn - Tặng Tào Bá tướng quân

Nghề vẽ - Tặng tướng quân Tào Bá (Người dịch: Nguyễn Phước Hậu)

將軍魏武之子孫,
於今為庶為青門。
英雄割據雖已矣,
文采風流今尚存。
學書初學衛夫人,
但恨無過王右軍。
丹青不知老將至,
富貴於我如浮雲。
...

Tướng quân Nguỵ Vũ chi tử tôn
Ư kim vi thứ vi thanh môn
Anh hùng cát cứ tuy dĩ hĩ
Văn thái phong lưu kim thượng tồn
Học thư sơ học Vệ phu nhân
Đãn hận vô quá Vương Hữu Quân
Đan thanh bất chi lão tương chí
Phú quý ư ngã như phù vân
...

Tướng quân: Nguỵ đế cháu con dòng
Nay chỉ dân thường sống sạch trong.
Chiếm đất xưng hùng xưa đã hết
Cuộc đời vẫn giữ nét gia phong.
Mới đầu học viết Vệ phu nhân
Vẫn hận chưa hơn Vương Hữu Quân
Mê hội hoạ quên già sắp đến
Giàu sang danh vọng tựa phù vân.
...

» Xem toàn bộ bài thơ

» Hiện dịch nghĩa


(Năm 764)

Nguồn: http://www.hoasontrang.us...oems/duongthi.php?loi=164
 
 

   Đài thượng
 
Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú, thời kỳ: Thịnh Đường
Đã được xem 521 lần
Đăng bởi hongha83 vào 23/01/2010 19:33
x Có 1 bài trả lời


Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
x Thao tác
 
 
 

臺上

Đài thượng

Lên đài (Người dịch: Phan Ngọc)

改席臺能迥,
留門月復光。
雲行遺暑溼,
山谷進風涼。
老去一杯足,
誰憐屢舞長。
何須把官燭,
似惱鬢毛蒼。

Cải tịch đài năng quýnh,
Lưu môn nguyệt phục quang.
Vân hành di thử thấp,
Sơn cốc tiến phong lương.
Lão khứ nhất bôi túc,
Thuỳ liên lũ vũ trường.
Hà tu bả quan chúc,
Tự não mấn mao thương.

Vác chiếu lên đài rộng
Trước cửa ánh trăng tràn
Thấp đến, mây đưa nóng
Thung lũng xui gió hàn
Già rồi say một chén
Ai thương kẻ múa tài?
Đuốc sáng cần gì đến?
Buồn tóc bạc mà thôi


Nguồn: Đỗ Phủ - Nhà thơ thánh với hơn 1000 bài thơ, NXB Văn hoá thông tin, 2001.
 
 

   Đào nạn
 
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong, thời kỳ: Thịnh Đường
Đã được xem 713 lần
Đăng bởi hongha83 vào 31/12/2008 14:02
x Có 2 bài trả lời


Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
x Thao tác
 
 
 

逃難

Đào nạn

Chạy loạn (Người dịch: Khương Hữu Dụng)

五十頭白翁,
南北逃世難。
疏布纏枯骨,
奔走苦不暖。
已衰病方入,
四海一塗炭。
乾坤萬里內,
莫見容身畔。
...

Ngũ thập đầu bạch ông,
Nam bắc đào thế nạn.
Sơ bố triền khô cốt,
Bôn tẩu khổ bất noãn.
Dĩ suy bệnh phương nhập,
Tứ hải nhất đồ thán.
Càn khôn vạn lý nội,
Mạc kiến dung thân bạn.
...

Ông đầu bạc năm mươi
Nam Bắc tránh loạn lạc
Vải thưa quấn xương khô
Chạy cùng không ấm xác
Già rồi bệnh lấm vào
Bốn biển đều khổ cực
Muôn dặm đất trời kia
Đâu chốn nương thân được
...

» Xem toàn bộ bài thơ


Bài này làm năm 770 như có ý tổng kết cả cuộc đời chạy loạn của tác giả. Khi đó Đỗ Phủ đang ở Đàm Châu.

Nguồn: Tuyển tập Đường thi/ NXB Đà Nẵng, 1996.
 
 

   Đông Đồn bắc yêm
 
Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú, thời kỳ: Thịnh Đường
Đã được xem 388 lần
Đăng bởi hongha83 vào 28/01/2010 12:38
x Có 1 bài trả lời


Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
x Thao tác
 
 
 

東屯北崦

Đông Đồn bắc yêm

Xóm bắc Đông Đồn (Người dịch: Nhượng Tống)

盜賊浮生困,
誅求異俗貧。
空村惟見鳥,
落日未逢人。
步壑風吹面,
看松露滴身。
遠山回白首,
戰地有黃塵。

Đạo tặc phù sinh khốn,
Tru cầu dị tục bần.
Không thôn duy kiến điểu,
Lạc nhật vị phùng nhân.
Bộ hác phong xuy diện,
Khán tùng lộ trích thân.
Viễn sơn hồi bạch thủ,
Chiến địa hữu hoàng trần.

Loạn ly đời khổ đã nhiều
Thuế sưu bòn đãi dân nghèo nghèo thêm
Làng không, chỉ có bóng chim
Ánh tà vơ vẩn chẳng tìm thấy ai
Lần khe, mặt nước gió phơi
Nhìn thông, mình ướt sương rơi đầm đìa
Non xanh đầu bạc trông về
Bụi vàng đất trận bốn bề tung bay


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996.
 
 

   Đông Đồn nguyệt dạ
 
Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú, thời kỳ: Thịnh Đường
Đã được xem 583 lần
Đăng bởi hongha83 vào 27/01/2010 18:51
x Có 1 bài trả lời


Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
x Thao tác
 
 
 

東屯月夜

Đông Đồn nguyệt dạ

Đêm trăng Đông Đồn (Người dịch: Nhượng Tống)

抱疾漂萍老,
防邊舊谷屯。
春農親異俗,
歲月在衡門。
青女霜楓重,
黃牛峽水喧。
泥留虎鬥蹟,
月掛客愁村。
...

Bão tật phiêu bình lão,
Phòng biên cựu cốc đồn.
Xuân nông thân dị tục,
Tuế nguyệt tại hành môn.
Thanh nữ sương phong trọng,
Hoàng ngưu giáp thuỷ huyên.
Nê lưu hổ đấu tích,
Nguyệt quải khách sầu thôn.
...

Phòng biên đồn thóc ngày xưa
Phận bèo già ốm bây giờ tới đây
Quê người xuân học cấy cầy
Nhà tranh lủi thủi tháng ngày vào ra
Bò vàng thác réo nước qua
Gái xanh sương rụng la dà ngàn phong
Trăng treo xóm khách buồn trông
Bùn in dấu hổ tranh hùng đánh nhau
...

» Xem toàn bộ bài thơ


Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996.
 
 

   Đông cảnh
 
Thể thơ: Thất ngôn bát cú, thời kỳ: Thịnh Đường
Từ khoá: mùa đông
Đã được xem 1583 lần
Đăng bởi Vanachi vào 26/10/2005 08:05
x Có 3 bài trả lời


Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
x Thao tác
 
 
 

冬景

Đông cảnh

Cảnh mùa đông (Người dịch: mailang)

天時人事日相催,
冬至陽生春又來。
刺繡五紋添弱線,
吹葭六琯動浮灰。
岸容待臘將舒柳,
山意衝寒欲放梅。
雲物不殊鄉國異,
教兒且覆掌中杯。

Thiên thì nhân sự nhật tương thôi,
Đông chí dương sinh xuân hựu lai,
Thích tú ngũ văn thiêm nhược tuyến,
Xuy hà lục quản động phi hôi.
Ngạn dung đãi lạp tương thư liễu,
Sơn ý xung hàn dục phóng mai.
Vân vật bất thù hương quốc dị,
Giao nhi thả phúc chưởng trung bôi.

Thời trời thế sự giục ngày qua,
Đông chuyển sang xuân dương khí hòa.
Ngũ sắc gấm thêu chen sợi mảnh,
Lục âm sáo thổi động tro hà.
Cuối năm bến đợi dương đâm đọt,
Khí lạnh non chờ mai nẩy hoa.
Mây cảnh khôn dời, quê lại khác,
Nâng ly, bảo trẻ rượu châm khà!

» Hiện dịch nghĩa

 
 

   Đông lâu
 
Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú, thời kỳ: Thịnh Đường
Đã được xem 438 lần
Đăng bởi hongha83 vào 23/01/2010 19:49
x Có 1 bài trả lời


Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
x Thao tác
 
 
 

東樓

Đông lâu

Lầu phía đông (Người dịch: Phan Ngọc)

萬里流沙道,
西征過北門。
但添新戰骨,
不返舊征魂。
樓角臨風迥,
城陰帶水昏。
傳聲看驛使,
送節向河源。

Vạn lý lưu sa đạo,
Tây chinh quá bắc môn.
Đãn thiêm tân chiến cốt,
Bất phản cựu chinh hồn.
Lâu giốc lâm phong quýnh,
Thành âm đới thuỷ hôn.
Truyền thanh khán dịch sứ,
Tống tiết hướng hà nguyên.

Cát bay vạn dặm trải
Sang Tây qua cửa này
Chỉ thêm xương lính mới
Hồn lính chẳng về đây
Kèn lầu vượt gió thổi
Thành Bắc nước triều đầy
Có tin báo sứ giả
Tìm nguồn sông phía Tây


Nguồn: Đỗ Phủ - Nhà thơ thánh với hơn 1000 bài thơ, NXB Văn hoá thông tin, 2001.
 
 

Trang trong tổng số 49 trang (487 bài thơ)
[1] [2] [3] [4] [5] [6] ... ›Trang sau »Trang cuối






RSS © 2004-2013 annonymous