Thi viện

Quên mật khẩu | Đăng ký

397 người đang online (7 thành viên)

 

» Tham gia Thi Viện trên facebook Tìm nhanh:      Góp ý



Tô Thức (Tô Đông Pha) - 蘇軾  x x

Thơ » Trung Quốc



Tô Thức

» Hiện danh sách 3 người yêu thích
- Ẩn tiểu sử tác giả
Tô Thức 蘇軾 (1036-1101) tự là Tử Chiêm 子瞻, hiệu là Đông Pha cư sĩ 東坡居士, người My Sơn (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc). Ông từng làm quan Thông phán, Thái thú. Cha là Tô Tuân, em là Tô Triệt, đều là các đại gia thi văn, đương thời người ta gọi là Tam Tô, thái độ của ông rất hào sảng lạc quan, tuy ông làm quan thăng giáng nhiều lần, song ông không để ý, vẫn ưu du tự tại, đọc sách làm vui, ông là người giàu tình cảm, cho nên phản ánh tới từ của ông, vừa hào phóng lại vừa tình tứ.

Ông là người có tài nhất trong số bát đại gia của Trung Hoa (từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII), khoáng đạt nhất, tư tưởng và tính tình cũng phức tạp nhất.

Ông sinh năm 1036 (có sách nói là 1037), mất năm 1101. Hồi 10 tuổi, cha là Tô Tuân đi du học bốn phương; mẹ, họ Trình, dạy ông học. Khi nghe giảng về truyện Phạm Bàng, ông khái nhiên hỏi mẹ: "Con sau này được như Phạm Bàng, mẹ có chịu không?". Bà mẹ đáp: "Con mà được như Phạm Bàng thì mẹ sao lại không làm được như mẹ Bàng?"

Mới mười lăm mười sáu tuổi ông đã thông kinh sử, rất thích đọc sách của Giả Nghị và Lục Chí). Như vậy ta thấy ông rất trọng đạo Nho và có chí giúp nước. Nhưng khi đọc sách Trang Tử, ông lại bảo: "Trước kia tôi có ý kiến, nhưng chưa diễn ra được; nay đọc sách này, hợp ý tôi quá". Tính tình ông phức tạp, mâu thuẫn ở điểm đó; suốt đời ông chịu ảnh hưởng cả Nho, lẫn Lão và Phật nữa, nhờ vậy mà tâm hồn ông khoáng đạt, tuy trong hoạn đồ chìm nổi nhiều phen mà không có giọng ai oán như Giả Nghị, Liễu Tôn Nguyên, vẫn mỉa mai ngạo đời được. Cũng nhờ vậy mà văn ông siêu thoát, có nhiều vẻ hơn các nhà khác.

Năm 21 tuổi ông đậu Tiến sĩ, nhờ bài Hình thưởng trung hậu chi chí luận (bài này Âu Dương Tu rất thưởng thức, ngờ là của Tăng Củng làm nên không lấy ông khôi nguyên mà hạ xuống á nguyên). Ông lãnh chức Chủ bạ Phúc Xương rồi làm quan luôn ba chục năm, nhưng chìm nổi bất thường, một phần vì ông có giọng mỉa mai, hay làm thơ châm biếm về chính trị, nên ít người ưa; một phần vì ông đứng vào phe cựu đảng của Tư Mã Quang, nên khi tân đảng của Vương An Thạch lên cầm quyền thì ông bị biếm ra những châu quận ở ngoài.

Ông làm Thông phán ở Hàng Châu, rồi chuyển qua Mật Châu, Từ Châu, Hồ Châu; có hồi vì chê bai tân pháp mà bị giam bào ngục, rồi biếm đi Hoàng Châu, làm chức Đoàn luyện phó sứ. Ở Hoàng Châu, ông cùng các ông lão nhà quê ngao du sơn thuỷ, cất nhà ở một sườn núi phía đông (đông pha), rồi lấy hiệu là Đông Pha cư sĩ (do đó người đời sau gọi ông là Tô Đông Pha).

Năm 1085, vua Triết Tôn lên ngôi, Thái Hoàng Thái hậu đương chính, bỏ chính sách của Vương An Thạch, dùng cựu đảng, ông được gọi về kinh, nhận chức Trung thư xá nhân, rồi chức Hàn lâm học sĩ kiêm Thị độc học sĩ, nhưng không được lâu, rồi lại bị đổi ra Hàng Châu, Dĩnh Châu, Định Châu cũng vì tính hay châm biếm.

Năm 1093, vua Triết Tôn mới thực cầm quyền, lại dùng tân đảng, và hoạn đồ của ông càng trắc trở, bị biếm hai ba lần, có lần tới Quỳnh Châu (nay là đảo Hải Nam). Sống tịch mịch, già cả mà vất vả, phải cất lấy nhà mà ở, thuốc thang không có, đành viết sách để tiêu khiến. Năm 1100, vua Huy Tôn lên ngôi, ông được đại xá, về lục địa, năm sau mất ở Thường Châu.

Ông ở trong phái thủ cựu, không ưa những cải cách mạnh bạo của Vương An Thạch, khi luận về chính trị thường giữ đạo trung hoà, không cầu gấp thành công, cứ bình tĩnh đợi sự tình biến đổi mà đối phó. Ông viết những bài Tần Thuỷ Hoàng luận, Thương Ưởng luận, mượn cổ mà chê kim, có ý so sánh chính sách của Vương An Thạch với chính sách của Tần Thuỷ Hoàng, của Thương Ưởng, bảo chính sách đó dùng ít thì hại ít, càng dùng nhiều càng hại nhiều.

Tuy nhiên ông không phải là cổ hủ, rất lo đến kinh tế, võ bị, lập một kế hoạch di dân, đề nghị nuôi binh ở trong dân (thời bình thì là nông dân, nhưng luyện tập quân sự để thời loạn thì thành lính), ông lại thực hiện được công việc khơi sông ở Từ Châu, công việc đắp đê ở Hàng Châu, làm lợi cho nông dân rất nhiều. Đê đó mang tên ông (Tô đê), trồng đào liễu ở hai bên, rất ngoạn mục.

Ông sáng tác được 4000 bài thơ, 300 bài từ, tản văn rất nhiều bày hay (như Phóng Hạc đình ký, Tiền Xích Bích phú, Hậu Xích Bích phú, v.v...). Tác phẩm ông lưu lại có bộ Đông Pha văn tập 60 quyển, bộ Đông Pha thi tập 25 quyển, bộ Đông Pha từ 1 quyển, bộ Cửu Trì bút ký 2 quyển, bộ Đông Pha chí lâm 5 quyển. Ngoài ra, vâng lời dặn dò của cha lúc lâm chung, ông viết tiếp cuốn Dịch truyện mà cha bỏ dở, rồi viết thêm những cuốn: Luận ngữ thuyết, Thư truyện để truyền bá đạo Khổng. Văn nhân đương thời rất trọng ông, và coi ông là người nối gót Âu Dương Tu trên văn đàn.

Ông vì chịu ảnh hưởng của Lão, Trang, nên văn ông như hành vân lưu thuỷ, hùng vĩ mà khoáng đạt, không chịu một sự trói buột nào cả (như bài Siêu nhiên đình kí, Phóng Hạc đình kí và nhất là bài Tiền Xích Bích phú).

Chẳng những văn ông hay, thơ ông tuyệt mà vẽ cũng khéo, viết chữ cũng tài, ông lại thông cả âm nhạc nữa. Thực là một thiên tài trác việt. Lâm Ngữ Đường, một học giả Trung Hoa hiện nay, rất trọng ông, cho rằng văn ông càng về già càng bình dị, sâu sắc, viết một cuốn kể đời ông, tức cuốn The gay genius - Life and times of Su Tungpo.

[Gửi ngày 21/04/2005 10:03 bởi Vanachi. Sửa 3 lần, lần cuối ngày 24/09/2007 22:33 bởi Vanachi.]


1. Hậu Xích Bích phú2. Phóng Hạc đình ký3. Tiền Xích Bích phú
1. Đông chí nhật độc du Cát Tường tự29. Huệ Sùng "Xuân giang vãn cảnh" kỳ 157. Sơn thôn kỳ 4
2. Đông Pha30. Huệ Sùng "Xuân giang vãn cảnh" kỳ 258. Tân Sửu thập nhất nguyệt thập cửu nhật ký dữ Tử Do biệt ư Trịnh Châu tây môn chi ngoại mã thượng phú thi nhất thiên kí chi
3. Đề Tây Lâm bích31. Kiền Châu bát cảnh đồ59. Tân Thành đạo trung
4. Đề Thẩm quân cầm32. Lô sơn60. Tú Châu Báo Bản thiền viện hương tăng Văn trưởng lão phương trượng
5. Độc Mạnh Giao thi33. Lạp nhật du Cô sơn phỏng Huệ Cần, Huệ Tư nhị tăng61. Túc Châu thứ vận Lưu Kinh
6. Đơn vịnh dược mã Đàn Khê sự34. Lục nguyệt nhị thập nhật dạ độ hải62. Tẩy nhi hí tác
7. Ẩm hồ thượng sơ tình hậu vũ35. Lục nguyệt nhị thập thất nhật Vọng Hồ lâu tuý thư63. Tặng Đông Lâm tổng trường lão
8. Bách bộ hồng36. Lục nguyệt nhị thập thất nhật Vọng Hồ lâu tuý thư kỳ 164. Tặng Lĩnh Thượng mai
9. Bát nguyệt thập ngũ nhật khán triều ngũ tuyệt kỳ 437. Lệ chi thán65. Tặng Lưu Cảnh Văn
10. Bệnh trung du Tổ Tháp viện38. Lý Tư Huấn hoạ "Trường Giang tuyệt đảo đồ"66. Tự đề Kim Sơn hoạ tượng
11. Biệt tuế39. Long Trung67. Tịch thượng đại nhân tặng biệt kỳ 1
12. Cát Tường tự hoa tương lạc nhi Trần Thuật Cổ kỳ bất chí40. Mai hoa kỳ 168. Tịch thượng đại nhân tặng biệt kỳ 2
13. Cát Tường tự tăng cầu các danh41. Mai hoa kỳ 269. Tịch thượng đại nhân tặng biệt kỳ 3
14. Cấp giang tiên trà42. Minh nhật trùng cửu diệc dĩ bệnh bất phó Thuật Cổ hội tái dụng tiền vận70. Thập nguyệt nhị nhật sơ đáo Huệ Châu
15. Chính nguyệt chấp nhật dữ Phan, Quách nhị sinh xuất giao tầm xuân, hốt ký khứ niên thị nhật đồng chí Nữ Vương thành tác thi, nãi hoạ tiền vận43. My Ổ71. Thập nhị nguyệt thập tứ nhật dạ vi tuyết minh nhật tảo vãng Nam khê tiểu chước chí vãn
16. Chính nguyệt nhị thập nhất nhật bệnh hậu Thuật Cổ yêu vãng thành ngoại tầm xuân44. Ngô trung điền phụ thán72. Thực lệ chi
17. Dĩ ngọc đới thi nguyên trưởng lão, nguyên dĩ nạp quần tương báo thứ vận kỳ 145. Ngục trung ký Tử Do nhị thủ kỳ 173. Thiên Trúc tự
18. Du Kim Sơn tự46. Ngục trung ký Tử Do nhị thủ kỳ 274. Thượng nguyên thị yến
19. Dương Quan khúc - Trung thu tác47. Pháp Huệ tự Hoành Thuý các75. Trúc diệp tửu
20. Hải đường48. Quỹ tuế76. Trần châu
21. Hậu thập dư nhật phục chí49. Quy Nghi Hưng lưu đề Trúc Tây tự tam thủ kỳ 377. Trần Quý Thường sở súc Chu Trần thôn giá thú đồ
22. Hữu Mỹ đường bạo vũ50. Sằn lão tập Thiên Khánh quán tiểu viên hữu đình bắc hướng đạo sĩ Sơn Tông thuyết khất danh dữ thi78. Vũ tình hậu, bộ chí Tứ Vọng đình hạ ngư trì thượng, toại tự Càn Minh tự tiền đông cương thượng quy kỳ 1
23. Hoa ảnh51. Sơ đáo Hàng Châu ký Tử Do nhị tuyệt kỳ 179. Vũ tình hậu, bộ chí Tứ Vọng đình hạ ngư trì thượng, toại tự Càn Minh tự tiền đông cương thượng quy kỳ 2
24. Hoà thuật cổ đông nhật mẫu đơn tứ thủ kỳ 152. Sơ đáo Hoàng Châu80. Vương Phục tú tài sở cư song cối nhị thủ kỳ 1
25. Hoài thượng tảo phát53. Sơ nhập Lư sơn kỳ 181. Xuân tiêu
26. Hoạ Hà trưởng quan lục ngôn54. Sơ tự Kính Sơn quy Thuật Cổ triệu ẩm Giới Đình dĩ bệnh tiên khởi82. Ư Tiềm tăng Lục Quân hiên
27. Hoạ Tử Do "Hàn thực"55. Sơn thôn kỳ 2 
28. Hoạ Tử Do Mãnh trì hoài cựu56. Sơn thôn kỳ 3 
1. Đào Nguyên ức cố nhân - Mộ xuân14. Giá cô thiên27. Song Hà Diệp - Hồ châu Giả Vân lão tiểu kỹ danh Song Hà Diệp
2. Định phong ba15. Hạ tân lang - Hạ cảnh28. Tây giang nguyệt kỳ 1
3. Động tiên ca16. Hoán khê sa kỳ 129. Tây giang nguyệt kỳ 2 - Trùng cửu
4. Điệp luyến hoa - Xuân tình17. Hoán khê sa kỳ 230. Tây giang nguyệt kỳ 3
5. Bát thanh Cam Châu - Ký Sâm Liêu tử18. Hoán khê sa kỳ 331. Thái tang tử
6. Bốc toán tử19. Lâm giang tiên - Dạ quy Lâm Cao32. Thấm viên xuân
7. Bốc vận toán nguyên - Cảm cựu20. Mãn giang hồng - Hoài Tử Do tác33. Thiếu niên du
8. Chiêu Quân oán21. Mãn giang hồng - Lưu tặng Chu Thọ Xương34. Thuỷ điệu ca đầu - Hoàng Châu Khoái Tai đình tặng Trương Ác Thuyên
9. Dương Quan khúc - Lý Công Trạch22. Nam ca tử35. Thuỷ điệu ca đầu - Trung thu
10. Dương Quan khúc - Quân trung23. Ngu mỹ nhân36. Thuỷ long ngâm - Thứ vận Chương Chất Phu "Dương hoa từ"
11. Giang thành tử - Ất Mão chính nguyệt nhị thập nhật dạ ký mộng24. Nhất hộc châu37. Vĩnh ngộ lạc - Bành Thành dạ túc Yến Tử lâu, mộng Miến Miến, nhân tác thử từ
12. Giang thành tử - Biệt Từ Châu25. Niệm nô kiều - Trung thu38. Vọng Giang Nam - Siêu Nhiên đài tác
13. Giang thành tử - Mật châu xuất liệp26. Niệm nô kiều - Xích Bích hoài cổ 


   Hậu Xích Bích phú
 
Thể thơ: Phú, thời kỳ: Bắc Tống
Từ khoá: Xích Bích
Đã được xem 824 lần
Đăng bởi hongha83 vào 23/09/2008 01:30
Đã sửa 1 lần, lần sửa cuối bởi hongha83 vào 23/09/2008 01:45
x Có 2 bài trả lời


(2 điểm, 1 người bầu)
Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
x Thao tác
 
 
 

後赤壁賦

Hậu Xích Bích phú

Bài phú Hậu Xích Bích (Người dịch: Nguyễn Văn Bình)

是歲十月之望,步自雪堂,將歸於臨皋。二客從予,過黃泥之阪。霜露既降,木葉盡脫,人影在地,仰見明月。顧而樂之,行歌相答。

已而歎曰:「有客無酒,有酒無肴;月白風清,如此良夜何?」客曰:「今者薄暮,舉網得魚,巨口細鱗,狀如松江之鱸。顧安所得酒乎?」歸而謀諸婦。婦曰:「我有鬥酒,藏之久矣,以待予不時之需。」

於是攜酒與魚,複游於赤壁之下。江流有聲,斷岸千尺。山高月小,水落石出。曾日月之幾何,而江山不可複識矣。予乃攝衣而上,履巉岩,披蒙茸,踞虎豹,登虯龍;攀棲鶻之危巢,俯馮夷之幽宮。蓋二客不能從焉。劃然長嘯,草木震動,山鳴谷應,風起水湧。餘亦悄然而悲肅然而恐,凜乎其不可留也。返而登舟,放乎中流,聽其所止而休焉。時夜將半,四顧寂寥。適有孤鶴,橫江東來,翅如車輪,玄裳縞衣,戛然長鳴,掠予舟而西也。

須臾客去予亦就睡。夢一道士,羽衣蹁躚,過臨皋之下,揖予而言曰:「赤壁之遊樂乎?」問其姓名,俯而不答。「嗚呼噫嘻!我知之矣。團昔之夜,飛鳴而過我者,非予也耶?」道士顧笑,予亦驚悟。開戶視之,不見其處。

Thị tuế thập nguyệt chi vọng, bộ tự Tuyết Đường, tương quy ư Lâm Cao. Nhị khách tòng dư, quá Hoàng Nê chi phản. Sương lộ ký giáng, mộc diệp tận thoát, nhân ảnh tại địa, ngưỡng kiến minh nguyệt. Cố nhi lạc chi, hành ca tương đáp.

Dĩ nhi thán viết: "Hữu khách vô tửu, hữu tửu vô hào; nguyệt bạch phong thanh, như thử lương dạ hà?" Khách viết: "Kim giả bạc mộ, cử võng đắc ngư, cự khẩu tế lân, trạng như Tùng giang chi lô. Cố an sở đắc tửu hồ?" Quy nhi mưu chư phụ. Phụ viết: "Ngã hữu đấu tửu, tàng chi cửu hĩ, dĩ đãi dư bất thì chi nhu."

Ư thị huề tửu dữ ngư, phức du ư Xích Bích chi hạ. Giang lưu hữu thanh, đoạn ngạn thiên xích. Sơn cao nguyệt tiểu, thuỷ lạc thạch xuất. Tằng nhật nguyệt chi kỷ hà, nhi giang sơn bất khả phức thức hĩ. Dư nãi nhiếp y nhi thượng, lý sàm nham, phi mông nhung, cứ hổ báo, đăng cầu long; phan thê cốt chi nguy sào, phủ Phùng Di chi u cung. Cái nhị khách bất năng tòng yên. Hoạch nhiên trường khiếu, thảo mộc chấn động, sơn minh cốc ưng, phong khởi thuỷ dũng. Dư diệc tiễu nhiên nhi bi túc nhiên nhi khủng, lẫm hồ kỳ bất khả lưu dã. Phản nhi đăng chu, phóng hồ trung lưu, thính kỳ sở chỉ nhi hưu yên. Thì dạ tương bán, tứ cố tịch liêu. Thích hữu cô hạc, hoành giang đông lai, sí như xa luân, huyền thường cảo y, kiết nhiên trường minh, lược dư chu nhi tây dã.

Tu du khách khứ dư diệc tựu thuỵ. Mộng nhất đạo sĩ, vũ y biên tiên, quá Lâm Cao chi hạ, ấp dư nhi ngôn viết: "Xích Bích chi du lạc hồ?" Vấn kỳ tính danh, phủ nhi bất đáp. "Ô hô y hy! Ngã tri chi hĩ. Đoàn tích chi dạ, phi minh nhi quá ngã giả, phi dư dã gia?" Đạo sĩ cố tiếu, dư diệc kinh ngộ. Khai hộ thị chi, bất kiến kỳ xứ.

Ngày mười rằm tháng mười năm ấy
Từ Tuyết Đường đứng dậy ra đi
Lâm Cao thẳng lối đường về
Khách theo qua giốc Hoàng Nê hai người.
Sương tuyết xuống lá tơi bời rụng
Dưới bóng người trên bóng trăng cao
Đoái trông phong cảnh vui sao
Vừa đi vừa hát nghêu ngao mấy bài.
...

» Xem toàn bộ bài thơ

» Hiện dịch nghĩa



Nguồn: http://www.hoasontrang.us...ungvan/?tag=to-t%E1%BB%AD
 
 

   Phóng Hạc đình ký
 
Thể thơ: Thể loại khác, thời kỳ: Bắc Tống
Đã được xem 648 lần
Đăng bởi Vanachi vào 06/08/2008 22:40
x Có 1 bài trả lời


(2 điểm, 1 người bầu)
Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
x Thao tác
 
 
 

放鶴亭記

Phóng Hạc đình ký

Bài ký đình Phóng Hạc (Người dịch: Nguyễn Hiến Lê)

熙寧十年秋,彭城大水,雲龍山人張君之草堂,水及其半扉。明年春,水落,遷於故居之東,東山之麓。升高而望,得異境焉,作亭於其上。彭城之山,岡嶺四合,隱然如大環,獨缺七十二,而山人之亭適當其缺。春夏之交,草木際天;秋冬雪月,千里一色,風雨晦明之間,俯仰百變。

山人有二鶴,甚馴而善飛,旦則望西山之缺而放焉。從其所如,或立於陂田,或翔於雲表。暮則傃東山而歸,故名之曰放鶴亭。

郡守蘇軾,時從賓客僚吏往見山人,飲酒於斯亭而樂之。揖山人而告之曰:「子知隱居之樂乎?雖南面之君未可與易也。易曰:『鳴鶴在陰,其子和之。』詩曰:『鶴鳴於九皋,聲聞於天。』蓋其為物,清遠閒放,超然於塵垢之外。故易詩以比賢人君子隱德之士,狎而玩之,宜若有益而無損者。然衛懿公好鶴,則亡其國。周公作酒誥,衛武公作抑戒,以為荒惑敗亂無若酒者;而劉伶阮籍之徒,以此全其真而名後世。嗟夫!南面之君,雖清遠閒放如鶴者猶不得好,好之則亡其國。而山林遁世之士,雖荒惑敗亂如酒者猶不能為害,而況於鶴乎?由此觀之,其為樂未可以同日而語也。」

山人欣然而笑,曰:「有是哉!」乃作放鶴招鶴之歌,曰:
鶴飛去兮,西山之缺,
...

Hy Ninh thập niên thu, Bành Thành đại thuỷ, Vân Long sơn nhân Trương quân chi thảo đường, thuỷ cập kỳ bán phi. Minh niên xuân, thuỷ lạc, thiên ư cố cư chi đông, đông sơn chi lộc. Thăng cao nhi vọng, đắc dị cảnh yên, tác đình ư kỳ thượng. Bành Thành chi sơn, cương lĩnh tứ hợp, ẩn nhiên như đại hoàn, độc khuyết thất thập nhị, nhi sơn nhân chi đình thích đương kỳ khuyết. Xuân hạ chi giao, thảo mộc tế thiên; thu đông tuyết nguyệt, thiên lý nhất sắc, phong vũ hối minh chi gian, phủ ngưỡng bách biến.

Sơn nhân hữu nhị hạc, thậm tuần nhi thiện phi, đán tắc vọng tây sơn chi khuyết nhi phóng yên. Tòng kỳ sở như, hoặc lập ư pha điền, hoặc tường ư vân biểu. Mộ tắc tố đông sơn nhi quy, cố danh chi viết Phóng Hạc đình.

Quận thú Tô Thức, thời tòng tân khách liêu lại vãng kiến sơn nhân, ẩm tửu ư tư đình nhi lạc chi. Ấp sơn nhân nhi cáo chi viết: "Tử tri ẩn cư chi lạc hồ? Tuy nam diện chi quân vị khả dữ dịch dã. Dịch viết: "Minh hạc tại âm, kỳ tử hoạ chi." Thi viết: "Hạc minh ư cửu cao, thanh văn ư thiên." Cái kỳ vi vật, thanh viễn nhàn phóng, siêu nhiên ư trần cấu chi ngoại. Cố Dịch, Thi dĩ tỷ hiền nhân quân tử ẩn đức chi sĩ, hiệp nhi ngoạn chi, nghi nhược hữu ích nhi vô tổn giả. Nhiên vệ ý công hiếu hạc, tắc vong kỳ quốc. Chu Công tác Tửu Cáo, Vệ Vũ Công tác Ức giới, dĩ vi hoang hoặc bại loạn vô nhược tửu giả; nhi Lưu Linh, Nguyễn Tịch chi đồ, dĩ thử toàn kỳ chân nhi danh hậu thế. Ta phù! Nam diện chi quân, tuy thanh viễn nhàn phóng như hạc giả do bất đắc hiếu, hiếu chi tắc vong kỳ quốc. Nhi sơn lâm độn thế chi sĩ, tuy hoang hoặc bại loạn như tửu giả do bất năng vi hại, nhi huống ư hạc hồ? Do thử quan chi, kỳ vi lạc vị khả dĩ đồng nhật nhi ngữ dã."

Sơn nhân hân nhiên nhi tiếu, viết: "Hữu thị tai!" Nãi tác Phóng hạc chiêu hạc chi ca, viết:
Hạc phi khứ hề, tây sơn chi khuyết,
...

Niên hiệu Hy Ninh năm thứ mười, mùa thu ở Bành Thành nước lớn, dâng lên tới nửa cánh cửa căn nhà lá của ông Trương, biệt hiệu là Vân Long sơn nhân. Mùa xuân năm sau, nước rút, ông dời nhà phía đông nhà cũ, tại chân núi phía đông. Lên cao mà nhìn, thấy có cảnh lạ, bèn xây đình ở trên. Núi Bành Thành, sườn đỉnh bốn bề bao lại, kín đáo như cái vòng lớn, chỉ khuyết một mặt phía tây, mà cái đình của sơn nhân lấp ngay chỗ khuyết đó. Cuối xuân sang hạ, cỏ cây xanh tận chân trời, mà tới thu đông, ngàn dặm tuyết trăng một sắc. Trong lúc gió mưa, hoặc tối hoặc sáng cúi ngửa nhìn xa, biến hóa trăm vẻ.

Sơn nhân có hai con hạc rất thuần mà bay giỏi. Sáng thì hướng chỗ khuyết của núi phía tây mà thả hạc, hạc tung bay tự do, hoặc đậu nơi chân núi, hoặc lượn trên mây cao; tối thì hướng về phía đông mà về. Vì vậy gọi đình đó là đình Phóng Hạc.

Thái thú là Tô Thức thường cùng với khách khứa liêu thuộc và các người giúp việc, lại thăm sơn nhân, uống rượu ở đình mà vui với cảnh. Chuốc rượu sơn nhân mà bảo: "Ông biết cái vui ẩn cư không? Tuy vua chúa trên ngôi cũng không đổi được cái vui đó. Kinh Dịch viết: "Hạc kêu trong sân, hạc con họa theo." Kinh Thi nói: "Hạc kêu ở đầm sâu, tiếng vọng tới trời cao." Loài đó thanh cao nhành phóng, siêu nhiên thoát trần, cho nên Kinh Dịch vá Kinh Thi đều ví nó với bậc hiền nhân quân tử và kẻ sĩ ẩn dật. Ðùa cợt ngắm nó thì có lẽ hữu ít mà vô hại; vậy mà Vệ Ý Công thích hạc đến mất nước. Ông Chu Công viết thiên Tửu Cáo, ông Vệ Vũ Công viết thiên Ức giới, cho rằng làm hoang toàng, mê hoặc, bại loạn thì không gì bằng rượu; vậy bọn Lưu Linh, Nguyễn Tịch lại nhờ rượu bảo toán thiên chân, lưu danh hậu thế. Than ôi! Vua chúa trên ngôi, thì dù thanh cao nhàn phóng như hạc kia, cũng không được thích vì thích nó thì mất nước; mà bọn ẩn sĩ ở sơn lâm, thì dù hoang toàng, mê hoặc, bại loạn như rượu kia cũng không làm hại mình được, huống chi là hạc. Do đó mà xét thì vui cũng có ba bảy đường, không nhất loại coi như nhau được."

Sơn nhân vui vẻ cười rằng: "Vậy ư?" Rồi làm một bài "Thả hạc" và "Phóng hạc" mà ca rằng:
Hạc bay đi (hề), tới chỗ khuyết ở núi tây,
...

» Xem toàn bộ bài thơ

 
 

   Tiền Xích Bích phú
 
Thể thơ: Phú, thời kỳ: Bắc Tống
Từ khoá: Xích Bích
Đã được xem 2261 lần
Đăng bởi Vanachi vào 14/12/2006 11:40
Đã sửa 2 lần, lần sửa cuối bởi Vanachi vào 09/10/2009 00:19
x Có 9 bài trả lời


(1.75 điểm, 4 người bầu)
Bầu chọn: 1 | 2 | 3 | 4 | 5
x Thao tác
 
 
 

前赤壁賦

Tiền Xích Bích phú

Bài phú Tiền Xích Bích (Người dịch: Phan Kế Bính)

壬戌之秋,七月既望,蘇子與客泛舟遊於赤壁之下。清風徐來,水波不興。舉酒屬客,誦明月之詩,歌窈窕之章。少焉,月出於東山之上,徘徊於斗牛之間。白露橫江,水光接天。縱一葦之所如,凌萬頃之茫然。浩浩乎如馮虛御風,而不知其所止;飄飄乎如遺世獨立,羽化而登仙。於是飲酒樂甚,扣舷而歌之。歌曰︰
「桂棹兮蘭槳,
擊空明兮泝流光。
渺渺兮於懷,
望美人兮天一方。」

客有吹洞蕭者,倚歌而和之,其聲嗚嗚然,如怨如慕,如泣如訴;餘音裊裊,不絕如縷;舞幽壑之潛蛟,泣孤舟之嫠婦。

...

Nhâm Tuất chi thu, thất nguyệt ký vọng, Tô tử dữ khách phiếm chu du ư Xích Bích chi hạ. Thanh phong từ lai, thuỷ ba bất hứng, cử tửu chúc khách, tụng Minh Nguyệt chi thi, ca Yểu Điệu chi chương. Thiểu yên, nguyệt xuất ư đông sơn chi thượng, bồi hồi ư Đẩu Ngưu chi gian, bạch lộ hoành giang, thuỷ quang tiếp thiên. Túng nhất vĩ chi sở như, lăng vạn khoảnh chi mang nhiên. Hạo hạo hồ như bằng hư ngự phong, nhi bất tri kỳ sở chỉ; phiêu phiêu hồ như di thế độc lập, vũ hoá nhi đăng tiên. Ư thị ẩm tửu lạc thậm, khấu huyền nhi ca chi. Ca viết:
"Quế trạo hề lan tương,
Kích không minh hề tố lưu quang,
Diểu diểu hề ư hoài,
Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương".

Khách hữu xuý đổng tiêu giả, ỷ ca nhi hoạ chi; kỳ thanh ô ô nhiên, như oán như mộ, như khấp như tố, dư âm niểu niểu bất tuyệt như lũ. Vũ u hác chi tiềm giao, khấp cô chu chi ly phụ.

...

Ngoài rằm tháng bảy mùa thu năm Nhâm Tuất, Tô tử cùng với khách bơi thuyền chơi ở dưới núi Xích Bích. Hây hây gió mát, sóng lặng như tờ, cầm chén rượu lên mời khách, đọc bài thơ Minh Nguyệt và hát một chương Yểu Điệu. Một lát, trăng mọc lên trên núi Đông Sơn, đi lững thững trong khoảng hai sao ngưu, đẩu. Khi đó sương toả trên mặt sông, nước trong tiếp đến chân trời. Tha hồ cho một chiếc thuyền nhỏ đi đâu thì đi, vượt trên mặt nước mênh mông muôn khoảnh. Nhẹ nhàng như cưỡi gió đi trên không, mà không biết là đi đến đâu; hớn hở sung sướng như người quên đời đứng một mình mọc cánh mà bay lên tiên. Vì thế uống rượu vui lắm, rồi gõ vào mạn thuyền mà hát. Hát rằng:
"Thung thăng thuyền quế chèo lan,
Theo vừng trăng tỏ vượt làn nước trong.
Nhớ ai cánh cánh bên lòng,
Nhớ người quân tử ngóng trông bên trời".

Trong bọn khách có một người thổi ống sáo, bèn theo bài ca của ta mà hoạ lại. Tiếng sáo não nùng rên rỉ như sầu như thảm, như khóc như than. Dư âm vẫn còn lanh lảnh, nhỏ tít như sợi tơ chưa dứt, làm cho con giao long ở dưới hang tối cũng phải múa mênh, người đàn bà thủ tiết ở một chiếc thuyền khác cũng phải sụt sùi.

...

» Xem toàn bộ bài thơ


Nguồn: http://www.thuvienvietnam.com/ftopict-2509.html
 
 






RSS © 2004-2013 annonymous