Dùng font cỡ nhỏ Dùng font cỡ vừa Dùng font cỡ lớn
RSS feed Chia sẻ trên Facebook

Chủ đề: Tố hữu--Một nửa nhà thơ

Diễn đàn » Thơ Việt Nam » Thảo luận chung về thơ Việt Nam


Trang trong tổng số 10 trang (95 bài viết)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối

Nguyễn thế Duyên gửi: 09/10/2010 22:50

Nguyễn thế Duyên

(Đã bị khoá vì lý do: xúc phạm BĐH)

Đăng ký: 23/4/2010
Số bài: 318

Tố hữu –Một nửa nhà thơ


Có lẽ trong các nhà thơ việt nam hiện đại không có nhà thơ nào phải để chúng ta suy ngẫm nhiều như Tố Hữu. Không có một nhà thơ việt nam nào lại chết trong lúc tài năng đang nở rộ nhất như Tố Hữu . Không có một nhà thơ nào lại vừa là ngọn đuốc soi đường cho thi ca lại vừa là tội đồ của thi ca như Tố Hữu.
Vừa qua ở Hà Nội, người ta tổ chức một cuộc hội đàm về Tố Hữu nhân ngày sinh hay ngày mất gì đó của ông mà tôi cũng không rõ. Tôi cũng có đọc một vài bài tham luận của một vài người trong cuộc hội đàm đó. Đọc xong tôi bỗng thấy thương ông vô cùng. Trời ơi! ông đã tự sát. Ông đã tự uống liều thuốc độc quyền lực để rồi ông chết rất muộn trong cuộc đời nhưng lại chết rất sớm trong thơ. Chao ơi! Cái chết của một nhà thơ tài năng làm cho tôi đau đớn.
Tôi không có được cái vinh hạnh được quen biết ông để tìm hiểu cuộc đời ông. Tôi chỉ là một người yêu thơ ông, thương sót cho ông vì vậy tôi đã tìm hiểu cuộc đời ông qua những chi tiết mà những nhân chứng về ông kể lại sau khi ông mất. Tôi đã đối chiếu nó với thơ của ông và chợt nhận thấy có một sự thống nhất một cách kì lạ giữa cuộc đời và thơ của ông. Những phân khúc trong cuộc đời ông đều thể hiện một cách rất rõ nét trong thơ ông. Cuộc đời ông có thể chia làm ba đoạnn tương ứng với ba thời kì của thơ ông
Thời kì gian khổ--tương ứng với hai tập thơ Từ ấy và Việt bắc
Thời kì quyền lực—Tương ứng với tập thơ gió lộng và một vài tập thơ khác nữa mà tôi cũng không để ý nó là tập thơ gì vì thời kì này là lúc ông đã chết lâu rồi.
Thời kì về hưu là thời mà ông vẫn tự nhận “Trăm năm duyên nợ đảng và thơ” nhưng thực ra thì thời kì này ông đã không còn một chút gì duyên nợ với cả đảng lẫn thơ nữa. Tôi xin chỉ đi sâu vào hai thời kì đầu của ông vì thực ra thời kì thứ ba của ông chẳng có gì để nói.
Phải nói cho thật công bằng, Tố hữu là một nhà thơ có tài. Giữa một trời thơ mới đang thịnh hành, các nhà thơ không một ai thoát khỏi cái tôi nhỏ nhoi của chính bản thân mình thì tố hữu là nhà thơ đầu tiên và gần như là duy nhất đã vượt qua cái tôi nhỏ nhoi của mình mang cái tôi ấy hòa vào những đau thương của dân tộc. Ông thực sự là người tiên phong , là ngọn đuốc soi đường cho một thời đại thơ ca mới.Thơ ông bình dị và thấm đẫm tình người
                                Em ơi nghèo không bánh
                                Anh chỉ có chút tình.
Ở câu thơ đầu chỉ có năm từ nhưng câu thơ đã bị ngắt làm ba đoạn “Em ơi/  nghèo/  Không bánh” đọc lên, câu thơ như những tiếng nấc mà nhà thơ đang cố gìm nén ở trong lòng. Đến câu thứ hai “Anh chỉ có chút tình”Câu thơ dàn trải, cứ thấp dần xuống như một nỗi u uất, nghẹn ngào. Tôi chưa đọc được của ai một câu thơ bình dị đến thế mà đẫm tình đến thế.
Đây là thời kì nhà thơ sống trong lòng dân tộc. Con tim ông đau cùng với nỗi đau của dân tộc. Cái tâm ông trong sáng một cách kì lạ và thơ ông cũng trong sáng một cách lạ kì. Chỉ có một cái tâm rất trong sáng mới có thể nhìn cô gái bán hoa trong bài thơ tiếng hát sông hương đẹp đến như vậy
    Răng không cô gái bên sông
Rồi mai cô sẽ từ trong tới ngoài
Thơm như hương nhụy hoa lài
Sạch như nưốc suối ban mai giữa rừng
Tất cả những gì trong sạch nhất, tinh khiết nhất ông đã dành cho một cô gái bán hoa. Lời thơ rất tự nhiên không có một chút gì gượng ép vì chính trong ông ông cũng tin điều đó là có thật. Niềm tin ấy cứ tự nhiên bật ra thành thơ và nó cũng tự nhiên đi vào lòng người mà không cần có bất cứ một thủ pháp nghệ thuật nào. Nhiều nhà phê bình văn học vẫn nói thơ tố hữu dung dị mà vẫn đi vào lòng ngưồi có lẽ là bởi niềm tin của ông vào cái lý tưởng mà ông theo đuổi thời ấy nó cũng dung dị như thế. Và tình cảm ông dành cho lý tưởng ấy nó rất thật và rất trong sáng trong tâm hồn ông và nó cứ tự nhiên tràn ra thơ
    Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
    Mặt trời chân lý chói qua tim
    Hồn tôi là một vườn hoa lá
    Rất đậm hương và rộn tiếng chim
Đấy! Ông diễn tả cái chân lý của cuộc đời ông mộc mạc mà trong sáng như vậy đây. Ai có thể nói những cái ông tin là những cái giả vờ! Không! ông tin thật nên thơ ông cũng rất thật. Tôi luôn tin rằng những nỗi đau của dân tộc mà ông cảm nhận, những đấu tranh để vượt qua những hèn kém trong tâm hồn mình trong bài “Con cá chột nưa” và kể cả cái câu mà ít người dám cho là ông nghĩ thật “Thanh thản chết như cày xong thửa ruộng” Là những điều rất thật trong tâm hồn ông Và cái thật ấy, cái bình dị ấy ông mang nó vào trong thơ vì ông không bao giờ nghĩ ông sẽ làm thi sỹ. Ông viết vì những điều mà ”Anh Lưu, anhDiểu “ dạy ông nó mãnh liệt quá nó chất chứa trong tâm hồn ông và một tâmhồn non trẻ đầy rung động, đầy khao khát, đầy cảm thông  không thể chứa hết đưộc . Nó trào ra đầu ngọn bút và tự nhiên ông trở thành nhà thơ như một định mệnh.
Ở tập từ ấy và việt bắc, đọc bất cứ bài nào, thậm chí bất cứ câu thơ nào ta cũng thấy nó thật, nó rung động và đi vào hồn người. Ta thử xem lại hình ảnh người vệ quốc trong ông
              Anh người vệ quốc quân
              Tôi là người cán bộ
              Hai đứa mỏi dừ chân
              Cùng nhau ngồi một chỗ
Thật là gần gũi, thật là thân thiết.  Hai đứa mỏi dừ chân. Không có một khoảng cách nào giữa ông và người lính. Khi đọc thơ ông về người giải phóng quân của những năm 70 về sau này ta không thể tìm được sự gần gũi và thân thiết ấy mặc dù hình ảnh người giải phóng quân về sau này ông vẽ to hơn, lớn hơn, vĩ đại hơn rất nhiều nhưng đọc lên ta biết ngay đấy chỉ là những bức tranh vẽ. Người lính không còn nằm trong tâm hồn ông nữa

Hoan hô anh Giải phóng quân
Kính chào Anh,
       con người đẹp nhất!
Lịch sử hôn Anh, chàng trai chân đất
Sống hiên ngang: bất khuất trên đời
Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi
Một dây ná, mót cây chông, cùng tiến công giặc Mỹ.
Không tự ngắm mình. Anh chẳng hay đâu.
Hỡi chàng dũng sĩ! Cả năm châu, chân lý đang nhìn theo

Những hình ảnh này nằm ở đâu trong ông? Trong tâm hồn hay chỉ nằm trong trí óc, trong những suy tư vô hồn?
Ta hãy đọc lại bài “Lượm” của ông
             Thôi rồi! Lượm ơi
Câu thơ ngắt quãng, đau đớn nhưng rồi bài thơ lại quay ngay lại với những hồi ức trong sáng
                Chú bé loắt choắt
                 Cái xắc xinh xinh
                Cái chân thoăn thoắt
                Cái đầu nghênh nghênh
               Ca lô đội lệch
                Mồm huýt áo vang
                Như con chim chích
               Nhảy trên đường làng
Viết về cái chết mà bài thơ không bi thương nhưng đầy tưởng nhớ. Còn đây là bài thơ cũng viết về một em bé của thời chống mỹ
             
Sớm hôm, củ sắn củ khoai
Khi đi trinh sát, khi gài mìn chông
Khi ra xung trận giữa đồng
Khi lăn dưới lửa, thoát vòng giặc vây
Súng này càng đánh càng hay
Một tay em chấp mười tay quân thù
Thằng Mỹ vừa ác vừa ngu
Nó như con cọp mắt mù đó thôi
Thằng Nguỵ vừa dại vừa tồi
Nó như con rắn theo đuôi ăn tàn

Nếu đặt hai bài thơ cạnh nhau các bạn thấy sao? Tôi không thể tin được đây cũng là Tố Hữu và một câu hỏi đã bật ra trong tôi “Cái gì đã làm thay đổi thơ Tố Hữu?” Tất nhiên tất cả các bạn đều biết câu trả lời “Đó là quyền lực” nhưng chắc các bạn không ai đặt ra một câu hỏi “Cách mà quyền lực tàn phá tâm hồn con người như thế nào?” và đó là cái điều tôi muốn lý giải cùng các bạn thông qua thơ tố hữu
Có một câu nói “Quyền lực làm hư hỏng con người” Rất hiếm có người vựợt qua được sự cám dỗ của quyền lực và những ai vượt qua được sự cám dỗ ấy đều là những vĩ nhân . Đức phật tổ hay như Bác Hồ của chúng ta chẳng hạn. Rất tiếc, Tố Hữu không phải là vĩ nhân nên ông bị quyền lực tha hóa cũng là một sự tất yếu. Vậy quyền lực tàn phá tâm hồn nhà thơ bằng cách nào?
Trước tiên khi có quyền lực người ta sẽ tách khỏi cái cuộc sống mà ngày trước họ đã sống . Họ sẽ sống trong một xã hội khác. Và khi tách khỏi xã hội nhà thơ đã sống nhà thơ sẽ không thể rung cảm với những gì mà những người đọc cảm nhận và thế là giữa người đọc và nhà thơ tâm hồn sẽ không còn đồng điệu nữa giữa họ và người đọc (Hay khác đi với nhân dân) đã có một khoảng cách.
Chúng ta diểm qua bài thơ “Bài ca lái xe đêm” của ông


Xe ơi cùng ta bay
Dù mưa bom bão đạn
Ta lấy đêm làm ngày
Ta cùng cây làm bạn
Khi đọc bài thơ này của ông tôi lại nhớ đến bài “Cá nưốc”

Một thoáng lặng nhìn nhau
Mắt đã tìm hỏi chuyện
Đôi bộ áo quần nâu
Đã âm thầm thương mến
Cả hai bài đều cùng là thơ năm chữ nhưng đọclên ta biết ngay bài cá nước ông làm trên đèo Nhe còn bài ca lái xe đêm chắc ông làm bên lly cà phê ở một căn phòng Hà nội. Tâm hồn ông đã không còn rung lên như một sợi dây đàn
Các cụ ta thường nói”Lòng tham không có đáy” Tôi không nghĩ là như vậy. Nếu nói về tiền bạc thì chỉ đến một mức nào đó người ta sẽ khôngg tham nữa. Tôi nhớ đến một câu nói của một nhà tư sản giàu nhất nhì Hà nội ngày trước ”Con người ta không thể một ngày ăn hết hai cân thịt bò và ngồi cùng một lúc trên hai chiếc ô tô” thế nhưng họ không bao giờ ngừng kinh doanh. Tại sao vậy? Tôi không nghĩ là họ tham mà là họ vẫn muốn khẳng định mình. Bằng chứng là bill gate người giàu nhất nhì hành tinh đã gần như mang toàn bộ tài sản của mình để làm từ thiện. Nếu vì tham chắc ông ta không làm như thế. Muốn tự khẳng định mình là một thuộc tính của con người.Mà tự khẳng định mình thì không có gì dễ dàng hơn là quyền lực. Cái tham quyền lực mới là cái tham không có đáy.Nhưng quyền lực bản thân nó chỉ là một vật “Ngoại thân” nó có thể chuỷển từ người này sang người khác nên khi có quyền lực trong tay người ta lại phải tìm cách giữ nó và thế là âm mưu hình thành,những khoảng tối trong tâm hồn phát triển .Với thơ đấy chính là lúc con tim của ông đã bị quyền lực đánh cắp. Trong ông không còn con tim nữa ,chỉ thuần túy còn lại là lý trí lạnh lùng. Thơ bắt nguồn từ con tim
                   Con tim nơi khởi nguồn
                   Của mọi bài thơ viết
                   Nhưng bài thơ kết thúc
                    Trong cái đầu suy tư
Con tim đã không còn điều tất yếu là thơ ông sẽ chết. Trong bài viết này, tôi không muốn đề cập đến những sai lầm của ông mà hậu quả của nó là vô cùng to lớn. Ông đã giết chết cả một thế hệ những nhà thơ,nhà văn tài năng vào bậc nhất của việt nam thời ông giữ chức trưởng ban văn hóa và tư tửởng trung ương mà tôi chỉ muốn đề cập đến cái cách mà quyền lực tha hóa tâm hồn con người thể hiện qua thơ mà cụ thể là thơ của Tố hữu như thế nào mà thôi
Ở phần trên tôi đã nói đến con người qua thơ của Tố Hữu ở hai khúc của cuộc đời ông. Ta hãy thử xem với đảng điều đó được thể hiện thế nào trong thơ ông.Trong tập từ ấy ông đã từng viết
Đường cách mạng từ khi tôi đã hiểu
Dấn thân vô là phải chịu tù đầy
Là gươm kề tậncổ súng kề tai
Là thân sống chỉ coi còn một nửa
Bao điều ấy thôi cần chi nói nữa
Bạn đời ơi ta đã hiểu nhau rồi.

Lời thơ như được thoát ra từ một con tim mơ mộng và mạnh mẽ. Tuy ông viết “Bạn đời ơi ta đã hiểu nhau rồi” nhưng tôi tin rằng ông chưa hiểu đâu. Ông mới hiểu những điều ghê gớm sẽ đến với ông bằng một con tim bay bổng của tuổi trẻ chứ chưa hiểu tất cả những điều đó bằng cái lý trí lạnh lùng và minh mẫn của bộ óc. Không hiểu các bạn có nhận thấy không nhưng tập từ ấy ông hầu như không dùng từ đảng. Ông chỉ dùng hai từ cách mạng và hai từ chủ nghĩa “Dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa” Ở thời kì đó, thời kì ông còn sống với dân tộc, con tim ông còn đau với nỗi đau dân tộc đảng hữu hình mà lại vô hình trong ông. “Đảng” đã hóa thân và tan vào trong những chị vú em, lão đầy tớ, trông những đứa trẻ ‘Ghèn nhầy nhụa ruồi bu trên môi tím”. Nó khác hẳn với quãng thời gian sau , thời gian con tim ông bị đánh cắp bởi quyền lực , thời kì ấy tiếng “Đảng” được  ông vung vãi khắp nơi và ông chỉ dùng mỗi tiếng “Đảng” Thôi. Từ chủ nghĩa và cách mạng ông lại không dùng đến nữa. Cũng phải thôi vì “Đảng” : Là cái đã cho ông quỳền lực. Ta thử xem ông viết thế nào về “Đảng”
                        Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt
                    Đảng ta đây xương sắt da đồng
                       Đảng ta muôn vạn công nông
                   Đảng ta muôn vạn tấm lòng niềm tin
Đúng là thời kì này trong thơ ông tiếng “Đảng “Kêu hơn chuông nhưng tôi lại thấy nó vô hình trong ông.Nó không còn là máu thịt của ông nhưng là cái ông phải cố công mà gìn giữ.
Thế còn với lãnh tụ? Cũng vậy thôi. Ngày trước tôi rất thích bài thơ “Sáng tháng năm “Của ông. Hình ảnh Bác Hồ thân thiết và gần gũi. Nó đời thường như một người cha, nngười bác trong nhà
                     Con bồ câu trắng ngây thơ
               Nó đi tìm thóc quanh bồ công văn  
Hay              



Bác Hồ đó, ung dung châm lửa hút
Trán mênh mông, thanh thản một vùng trời.
Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười
Quên tuổi già, tươi mãi tuổi đôi mươi!

Cái hình ảnh bình dị đời thường nhưng rất thân thiết  này ta sẽ không gặp lại nữa trong thơ ông sau này. Đọc bài thơ Bác ơi sau này của ông lòng tôi cứ gờn gợn. Hình như đây là tiếng khóc của người khóc mướn hơn là tiếng khóc của một người con, người cháu.với một người vừa ra đi.
Ngày xưa khi Anhstanh được dân do thái mời làm tổng thống ông đã nói một câu  “Chính trị là nhất thời, Phương trình là bất tử” và ông đã từ chối. Tiếc cho Tố Hữu đã không đọc câu này. Nếu ông đọc câu này thì ông sẽ hiểu ngay “Quyền lực là nhất thời, thơ mới là bất tử” thì có phải chúng ta đã có một nhà thơ sống mãi với thời gian. Thật tiếc lắm thay. Để kết thúc bài viết này xin tặng tất cả các bạn đọc một bài thơ nhận định về ông của tôi

                         
               Một nửa nhà thơ
Ông nghĩ thủ tướng hơn nhà thơ
Nên cuối cuộc đời ông bỏ thơ để làm thủ tướng
Ông chết có hai năm
             Tên ông
                 Không một ai nhắc đến
Nếu biết trước điều này liệu ông có bỏ thơ?
 
Hai trăm năm đờivẫn nhắc Nguyễn Du
Vẫn nhắc đến tiếng đàn năm ngón tay nhỏ máu
Vẫn nhắc đến điều thủa sinh thời người vẫn thường đau đáu
"Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như"
 
Thủa sinh thời ông vẫn được tung hô
Nhà thơ lớn- Nguyễn Du thời đại
Lũ bồi bút đâu rồi sao nay tôi không thấy
Nếu biết trước được điều này liệu ông có bỏ thơ?
 
Đêm nay ngồi đọc lại thơ ông
Tôi lặng sé tập thơ đi một nửa
Lòng cảm thấy bùi ngùi
Thơ ông chết đã lâu rồi
 
 
Tôi phải nói công bằng
  Ông_ Một nhà thơ có tài
Tập "Từ ấy" bây giờ tôi vẫn thuộc
Khi trái tim ông đau với nỗi đau dân tộc
Thơ ông bay lên qua song sắt nhà tù
 
Lúc bả hư danh lấy đi trong ông trái tim của nhà thơ
Là lúc thơ ông biến thành khẩu hiệu
Ông đã chết trong thơ
 
Tôi đến mộ Hoài Thanh
Cầm cuốn "Thi nhân Việt nam" cho ông viết tiếp
Ông buồn rầu nhìn về cuối chân trời
Ông thở dài
Rồi viết
Tố Hữu! một nửa nhà thơ
 
Ôi!
Cái chết của một nguyên thủ quốc gia
Và cái chết của một nhà thơ
Cái chết nào khiến ta đau đớn?
                     
 
Tố Hữu một nhà thơ nổi tiếng. Phó thủ tướng chính phủ
 

                                                                                        Hà nội 10—10—2010

Tiểu Thanh Đình gửi: 09/10/2010 23:11

Tiểu Thanh Đình

Tiểu Thanh Đình

Đăng ký: 23/3/2008
Số bài: 1335

Em nghĩ nếu anh ở địa vị cụ Tố Hữu anh sẽ lựa chọn thế nào?
(Dù là em đoán ra câu trả lời!)

Tường Thụy gửi: 10/10/2010 03:31

Tường Thụy

Tường Thụy

Đăng ký: 11/6/2008
Số bài: 2273

Giờ anh mới thấy em Tiểu Thanh Đình "gớm mặt"
ka ka ka :))
Giá mà đừng lạc lá thư
Tôi đừng vụng dại, vần thơ đừng buồn


Tường Thụy gửi: 10/10/2010 03:44

Tường Thụy

Tường Thụy

Đăng ký: 11/6/2008
Số bài: 2273


Chào anh Nguyễn Thế Duyên. TT thấy cái này bên bác Nguyễn Trọng Tạo có vẻ cùng chủ đề nên bê trộm sang đây, hy vọng không làm phiền anh:



CÒN AI ĐỌC THƠ TỐ HỮU?

http://farm3.anhso.net/upload/20101010/16/o/anhso-163723_ToHuu2.jpg  
Tố Hữu, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Trọng Tạo -Ảnh: Nguyễn Đình Toán

NTT: Tố Hữu mấy chục năm làm quan to được giới bồi bút tâng là “ngọn cờ đầu thơ Việt Nam”. Tuy vây, năm 1985 trong một cuộc giao lưu tại Đại học Quy Nhơn, được hỏi về thơ Tố Hữu, tôi đã trả lời rằng: “Tôi không thích thơ Tố Hữu, có thể vì cơ thể tôi dễ bị dị ứng, giống như cá ngừ ngon, nhưng có người không ăn được”. Trong nhiều cuộc trà dư tửu hậu tôi cũng hay đưa thơ Tố Hữu ra đùa: “Thịt với xương tim óc dính liền” là một câu thơ về tai nạn giao thông; “Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt” nghĩa là tay làm thì ít mà mắt lườm nguýt thì nhiều; vân vân… Vừa rồi tôi có nhận được 2 giấy mời đi dự 2 cuộc về thơ Tố Hữu tôi cũng không đến vì ngại dễ gây sự không đồng thuận. Nay anh Lại Nguyên Ân gửi đến bài viết này, tôi thấy khá tâm đắc và xin giới thiệu cùng bạn đọc.

VÀI Ý NGHĨ NHÂN HỘI THẢO VỀ TỐ HỮU

LẠI NGUYÊN ÂN


1/ Kỷ niệm Tố Hữu (TH) năm nay, nhân 90 năm sinh, được tổ chức khá rùm beng: đã một buổi trình diễn thơ-nhạc tại Nhà hát Lớn hôm chủ nhật 2/10, lại buổi hội thảo tại ban Tuyên huấn TƯ hôm 4/10. Làm lớn  nhân năm chẵn, lại nhân lễ ngàn năm Thăng Long, rõ rồi; nhưng liệu có phải vì cái uy của thơ TH đang suy trong công chúng? Nghe đôi nhà giáo đại học cho biết, sinh viên ngữ văn không thích làm luận văn, luận án về thơ TH. Không tin thì ban Tuyên huấn cho cán bộ nhân viên làm điều tra xem?

2/ Đọc lại tài liệu giới phê bình nghiên cứu VN viết về TH, nhất là những gì viết từ 1955 đến 2000, bạn phải lưu ý… “trừ bì”, tức là phải lượng định mức độ phóng đại của những lời khen. Một đôi người chỉ khen cho phải phép trước kẻ đắc thời đắc thế, nhưng nhiều người thì khen thơ TH là khen cấp trên, đề lên tận lưng trời, là để kiếm lợi riêng, như cái tay phụ trách tạp chí của Viện nọ dám viết rằng TH làm chức càng cao thì thơ càng hay! (trong khi Xuân Sách nhận xét đúng hơn: nhà càng lộng gió thơ càng nhạt!). Thơ TH đã từng đem lại tiền bạc, học hàm học vị cho không ít nhà giáo, nhà nghiên cứu, – điều này có thật, nhưng “chất lượng khoa học” của sự phê bình nghiên cứu trước đây về thơ TH thì nay cần phải trở thành một đối tượng nghiên cứu khảo sát, đừng có mặc nhiên trích dẫn vô tư.

3/ Giá trị thực sự của thơ TH ra sao? Có sống sót được với thời gian không? – là những điều người ta nên nghĩ tiếp.

Tôi cho rằng thơ TH có thể có tình giai cấp, tình dân tộc, nhưng không có tình nhân loại.

Không có tình nhân loại là ý thức, là chủ ý của nhà thơ TH, người đã ra lệnh cho toàn giới lý luận và sáng tác văn nghệ ở miền Bắc phải loại bỏ tình nhân loại, bác bỏ chủ nghiã nhân đạo (humanisme) cả về lý luận lẫn thực tiễn, bảo nó là “nhân loại chung chung, nhân tính trừu tượng”, mang tính tư sản, cấm không ai được rơi vào quan niệm đó, nếu không muốn bị trừng phạt! Tự ông nói thơ ông là “đồng ý, đồng tình, đồng chí”, nghĩa là những ai không là “đồng chí” với ông thì không thể được ông thích, những ai không “đồng tình, đồng ý” với ông thì đều bị loại ra khỏi thế giới thơ ông. Bị nhà thơ thường dân ghét thì cũng chẳng sao, nhưng bị nhà thơ quyền uy đầy mình như TH ghét thì kẻ bị ghét sẽ khốn nạn từ thân xác đến tận tâm thần, như những cựu “đồng chí” Nhân văn-Giai phẩm đó!

Những nhận định cũ về tình giai cấp, tình dân tộc ở thơ TH cần được minh định lại. Tình dân tộc ở thơ ông chỉ có trong sự phụ thuộc tình giai cấp; ông thạo các điệu thơ Việt cũ, như câu lục bát, câu song thất, lời diễn ca; nhưng ông lại bắt những gì dân tộc tính phải mang màu thời đại, lại là cái màu như ý ông, tức là phải gần gụi công nông binh, – ông chỉ thừa nhận là có tính dân tộc những gì gần gũi với các tầng lớp bình dân hoặc dưới đáy; ông là một học trò tiểu tư sản sinh ra ở đất “thần kinh” Huế nhưng lại ghét tất thảy những gì mang chất trí thức, bác học; ông là người hoạt động chính trị mạnh mẽ, nhiều đam mê và cơ mưu, nhưng thơ ông lại cổ vũ một thứ chủ nghĩa cấm dục hà khắc, may lắm cũng chỉ có một chút xíu tình yêu platonic, “trái tim chia ba phần…, dành cho Đảng phần nhiều”… Tình giai cấp ở thơ ông tựu trung là tìm sự cảm thông trong những tầng lớp dưới, bị thống trị, kêu gọi họ hợp sức lật đổ giai cấp giàu có đang thống trị và giao cái quyền lực vừa giành được ấy cho ông và các đồng chí của ông, rồi từ đấy hãy cúc cung lao động chiến đấu dưới sự dẫn dắt không thể lầm lẫn của bọn ông! Thế thôi. Tức là nó mang đầy sự thực dụng, sự tuyên truyền. TH hiển nhiên là nhà thơ của Đảng mình, nhưng vị tất đã là nhà thơ của dân tộc mình.
Ảnh hưởng thơ TH ở VN (nói chính xác là ở vùng thuộc VNDCCH và CHXHCNVN) là lớn, nhờ việc bộ máy tuyên truyền do ông đứng đầu, đưa thơ ấy tràn ngập các kênh chủ yếu: sách giáo khoa, sách báo phổ thông, đài phát thanh… Nói cho đúng, công chúng sống trên đất VNDCCH và CHXHCNVN biết và thuộc thơ TH là vì không thể tránh thoát thơ ấy, là vì không có chỗ trốn khỏi thơ ấy. Tất nhiên thơ ấy chiếm lĩnh tâm hồn rất nhiều lớp người, và chính vì thế mà họ đã làm những gì thơ ấy kêu gọi, nhất là… ra trận!
Thơ TH có những vết nhơ không thể tẩy xóa, như đoạn thơ “Yêu biết mấy nghe con tập nói / Tiếng đầu lòng con gọi “Sta-lin” ! Ý thơ ấy, ngay tầm gần, đã trái hẳn lẽ thường nhân loại: trẻ con tập nói thì gọi “mẹ” chứ đâu đã biết ai xa lạ? trẻ Việt làm sao tập nói được cái từ đa tiết xịt xoạt như thế kia? (Bài đăng tạp chí Văn nghệ 1953 là Tiếng đầu lòng nó gọi ‘Ông Lin’ , bản in vào sách Việt Bắc  1955 sửa thành Tiếng đầu lòng con gọi ‘Stalin’). Lại nữa, người đàn bà Việt dân quê làm sao có thể “Thương cha thương mẹ thương chồng / Thương mình thương một, thương Ông (Stalin) thương mười”  (!?!). Đây quả là một quái tượng trong thơ ca tiếng Việt và thơ ca thế giới, khi nhà thơ (thường được xem là kẻ chỉ biểu dương những gì nhân ái, lương thiện) lại ngợi ca “công đức” một Bạo chúa, một Hung thần, một Độc tài khét tiếng, một Đao phủ thủ vĩ đại, và để làm cái việc ngợi ca trái lẽ ấy, người làm thơ đã hoàn toàn xé bỏ những giới hạn thông thường của tình cảm nhân loại.

Trên mạng internet bây giờ đôi khi còn thấy người ta cho rằng TH là tác giả đoạn thơ khủng khiếp này:  

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt.

Tôi thấy lạ với đoạn thơ này, vì dường như chưa từng gặp nó trong các tập thơ Tố Hữu đã đọc. Vậy nhân đây đề xuất với giới nghiên cứu, nhất là các giáo sư đã từng “ăn lộc” nhiều ở thơ TH (như Hà Minh Đức, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Đình Sử…), hãy tìm ra ngọn nguồn đoạn thơ này và thông tin lại cho bạn đọc; nếu nó không phải là thuộc ngòi bút TH thì cũng là may cho ông, tuy vẫn thật buồn cho giới làm thơ của chúng ta. Lọt sàng xuống nia, nó vẫn là của một ngòi bút Việt Nam nào đó. Vượt ra ngoài chuyện xác định “tác quyền” cụ thể, đoạn thơ này thông báo rằng còn có cả một dòng thơ ca quần chúng sắt máu đầy hận thù giai cấp từng được Đảng khơi lên, từng được sáng tác ra và lưu truyền trong dân chúng, – đó là “văn thơ (có cả kịch, chèo) phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất”, xuất hiện từ khoảng 1951 và tự tắt đi vào cuối 1956. Rất nhiều tên tuổi nhà thơ nhà văn quen thuộc có góp tác phẩm vào mảng văn thơ này, kể cả Nguyễn Tuân, kể cả Nguyễn Bính, kể cả Hữu Loan…, tất nhiên số đông hơn vẫn là những tác giả quần chúng ít tên tuổi. Cho đến nay, về cải cách ruộng đất thì ít nhiều đã có những công trình, luận  án sử học, nhưng mảng văn thơ cải cách ruộng đất thì vẫn chưa hề có một sưu tập, tuyển tập tác phẩm, cũng chưa có một công trình nghiên cứu, luận án hay luận văn nào đề cập tới. Cố tình hay vô ý của giới nghiên cứu văn học chính ngạch ta đây? Hãy chờ nghe trả lời từ những người đang phụ trách các cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội của nhà nước. Nhưng dù sao thì cũng đừng nghĩ rằng hễ giới nghiên cứu làm bộ quên thì mảng văn thơ này sẽ dần dần biến mất; tốt hơn là nên tiếp cận bằng các sưu tập và công trình nghiên cứu, tức là nhắc lại nó như một kinh nghiệm đau xót của một nền văn học từng sa vào những giọng điệu và tinh thần phi nhân đáng hổ thẹn ấy.

(Xin đọc tiếp ở phần dưới}


Giá mà đừng lạc lá thư
Tôi đừng vụng dại, vần thơ đừng buồn


Tường Thụy gửi: 10/10/2010 03:46

Tường Thụy

Tường Thụy

Đăng ký: 11/6/2008
Số bài: 2273


(Tiếp theo)


4/ Tôi không biết viết truyện, nên rất muốn mách cho ai đó giỏi viết truyện, hãy viết một truyện “chưởng” có nhan đề “Ly Khách Thần Kinh và quần anh Bắc Hà”. Đây là một chuyện “quần hùng” của giới văn sĩ VNDCCH và CHXHCNVN những năm 1947-1990.

“Ly Khách Thần Kinh” là TH, một người Huế (= đất thần kinh), rời Huế ra Bắc hoạt động từ 1947 (hoặc sớm hơn) nên gọi là “ly khách” (dựa câu thơ Thâm Tâm “Ly khách! Ly khách! Con đường vắng ”); “quần anh Bắc Hà” dĩ nhiên là nói đám văn sĩ Việt trên đất Bắc, từ những người tham gia Văn hóa cứu quốc thời đầu đến những tài danh thuộc lớp kế tiếp.

Những văn sĩ tham gia hội Văn hóa cứu quốc (VHCQ) thời đầu (1943-45) hầu hết đều là những tài năng trẻ ở đất Bắc, hứa hẹn kế tiếp lớp tiền chiến đầy thành tựu. VHCQ là đoàn thể nằm trong Việt Minh rộng lớn, nhưng quan hệ trực tiếp với Hội này là các nhân sự đứng đầu xứ ủy Bắc Kỳ (của ĐCS Đông Dương). Ngay sau ngày cướp chính quyền (19/8/1945) VHCQ rất được tin dùng. Việc tổ chức lễ tuyên bố độc lập được giao phần chính cho VHCQ; đến số liệu người chết trong nạn đói 1945 nêu trong Tuyên ngôn độc lập cũng do VHCQ cung cấp…

Trong năm 1946 “Ly Khách Thần Kinh” có ra Hà Nội, có ghé thăm VHCQ trước lúc trở về Thanh, VHCQ in cho tập “Thơ”  (1959 in lại đổi là “Từ ấy”), thế thôi…

Vậy mà chỉ hơn một năm sau, lúc đã bước vào kháng chiến, tại Việt Bắc, giữa những văn sĩ đã rời Hà Nội đến “thủ đô gió ngàn” bỗng lại xuất hiện “Ly Khách Thần Kinh”, không phải như một văn sĩ như các văn sĩ khác, mà như một người của Đảng cử sang lãnh đạo cả giới này.

Thế tức là những văn sĩ theo VHCQ từ đầu, đã không có ai được đủ tin cậy để TƯ Đảng giao cho lãnh đạo giới mình. Những Ng. H. Tưởng, Ng. Đ. Thi hẳn là có hơi bị sốc?

Phía “Ly Khách Thần Kinh”, một tập “Thơ” (Từ ấy) chưa đủ để đám văn sĩ đi KC này phục tài. Làm sao chàng so đọ được tài văn với Ng. Tuân, tài thơ với X. Diệu, tài nhạc với V. Cao, …?

Cuộc “chinh phạt” của “Ly Khách Thần Kinh”  phải diễn ra với những mưu kế khác, tùy theo thời thế.

Năm 1949 thì chỉ bằng mấy nguyên tắc “dân tộc-khoa học-đại chúng” đã có thể dằn mặt Ng.Đ.Thi và những người trẻ đang hăm hở làm mới thơ Việt.

Sau 1950 (khai thông biên giới, tiếp nhận ảnh hưởng Trung Cộng), thì nhân danh chỉnh huấn, còn có thể buộc hầu hết “quần anh Bắc Hà”, kể cả những tài danh lớn như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Công Hoan… viết kiểm điểm về lập trường giai cấp từng thể hiện trong sáng tác trước kia, tuyên bố từ bỏ thành quả văn nghệ tiền chiến của chính mình, cam kết từ đây chỉ viết trong vòng “yêu-căm-chiến-lạc” (= yêu nước, căm thù giặc, chiến đấu, lạc quan).

Tất nhiên đám “quần anh Bắc Hà” không chỉ có duy nhất một bọn, thế nên tốp này quy hàng lại có tốp khác khiêu chiến. Tranh luận tại Hà Thành hồi 1955 về tập thơ “Việt Bắc”  là điểm va chạm nảy lửa; một bọn văn sĩ (Hoàng Cầm, Lê Đạt, Nguyễn Bính…) ngạo nghễ xem thường lối thơ bình dân hóa, nhân danh công nông binh của “Ly Khách Thần Kinh”, trong khi đám đã quy hàng (X. Diệu, H.Thanh, Ng. Đ.Thi…) thì ra sức tâng bốc, hơn thế, còn dùng quyền lãnh đạo để buộc chấm dứt thảo luận khi những lời chê bai đậm dần lên…

Nhưng sự tranh biện lại nảy ra ở quy mô rộng hơn, động đến những tai họa xã hội có thật, tại đất mình (cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức) và tại “phe” mình (dân Hung, Ba Lan nổi lên chống ách XHCN Xô-viết…)… “Ly Khách Thần Kinh”, cùng với đàn anh trong chính giới, dùng sách “trăm hoa đua nở” của Mao, cho “mở rộng dân chủ”, “phê bình lãnh đạo” để xả van trí thức, nhân thể cho lộ diện những gương mặt bướng bỉnh đáng ghét. Thế là có mùa vụ ngắn (từ tháng 9 đến 12/1956) của những Giai Phẩm, Nhân Văn, Đất Mới, Sáng Tạo, Trăm Hoa… Rồi thoắt cái, van phê bình khóa lại, màn đua nở hạ xuống, tất cả mọi ý kiến bất đồng đã phát biểu trở thành chứng tích để kết tội “chống chế độ”, một loạt “đồng chí” trí thức, văn nghệ sĩ được biến thành kẻ thù của tổ quốc, của chế độ… Một không khí sợ hãi đã hình thành trong giới văn nghệ, trong toàn xã hội, – mục tiêu thiết lập chuyên chế tinh thần đã thành đạt.

“Ly Khách Thần Kinh” đắc thắng, bước thăng tiến ngày một cao. Đám “quần anh” kế sau tại Hà Thành có lúc toan thở phào, tưởng chừng khi anh Lớn bước vào nội các làm tả tướng quốc chuyên lo việc canh nông, thì thôi, để miền văn nghệ cho quan lớn… nhỏ hơn. Họ đã lầm, “Ly Khách Thần Kinh” vẫn canh chừng đất văn nghệ vốn là “đất phát tích” của mình, và vẫn thừa uy lực ngoái sang giáng một chưởng quyết định vào vài kẻ dám “đề dẫn” (1979) cho một tinh thần văn chương có mùi khác khác. Cú choảng này nhất cử lưỡng tiện: vừa cản đường và vô hiệu hóa một tay bút từ chiến trường bước ra với tương lai chính trị có vẻ tràn trề, vừa làm phúc cứu thua cho Ng.Đ.Thi đang đứng trước nguy cơ bị thải loại quá sớm. Ng. Đ.Thi được cứu, lại đứng ra chủ trì ĐH nhà văn thứ 3 (1983) và tái đắc cử tổng thư ký, trong hân hoan chót nói… thật những lời có cánh đầy tai tiếng, tự xem giới nhà văn của mình là những “hạt bụi” lấp lánh dưới ánh sáng đảng!

Nhưng đường thăng tiến của “Ly Khách Thần Kinh” không phải cứ lên cao … cao mãi, tuy rằng, đã có lúc khắp tam kỳ tứ trấn ngập tràn lời đồn đại Ngài sẽ được truyền ngôi tổng Bí. Sau vụ đổi tiền 1985, lạm phát sốt lên theo nhịp thơ leo thang, lên tới vài chục ngàn lần, đất nước rúng động, lãnh đạo giật mình; tài kinh tế của “Ly Khách Thần Kinh” đã bộc lộ trọn vẹn, Ngài bèn bị phạt thẻ đỏ, mất chức, rời nội các. Cuộc “đổi mới” diễn ra, nghe nói Ngài hậm hực không tán thành. Rồi thì Ngài chìm vào tâm trạng “riêng một ngọn đèn” ở bên lề giới chính khách mới…

Ngài quay lại chơi với giới văn sĩ. Thường là dễ chơi với đám trẻ con khi xưa mà nay đã thành những nhà văn nhà thơ người lớn. Còn với những “cố nhân” nặng nợ một thời thì không dễ chút nào, khi những ân oán giang hồ cũ không thể nào vơi đi được. Một mặc cảm tội lỗi nào đó vẫn đeo đuổi Ngài chăng, khi Ngài tận dụng những phỏng vấn dài dài để gài vào tương lai một nghi án rằng Ngài từng rất mực nể trọng những thi nhân học giả lỗi lạc này kia, lẽ nào chính Ngài đàn áp họ!? Lúc khác, cầm bút viết hồi ký, Ngài sống lại tư thế cầm quyền khi trước, tiếp tục gọi tất cả đám học giả thi nhân ấy là “bọn phản động”! Quả thật, cho tới khi đậy nắp quan tài, Ngài vẫn chưa thể “nói chuyện” lại được với những nạn nhân của mình trong giới cầm bút. Phía những nạn nhân cũ ấy cũng vậy: từ lúc được khôi phục, họ lên tiếng về mình ở nhiều chỗ khác nhau, trước những công chúng và đồng nghiệp khác nhau, trừ những công chúng và đồng nghiệp đã từng la ó và cùm kẹp họ. Ấy vẫn là một bất cập lịch sử của cả hai phía. Đám “quần anh Bắc Hà” xưa bị Ngài dìm xuống bùn, phải từ bùn gượng dậy, bằng sáng tạo mà trụ lại với đời, – đám người ấy nay còn hận Ngài chăng? Khó biết hết. Như bài Hoàng Cầm tiễn đưa Ngài đó! Chỉ phô cái tử tế ra mà thôi! Mà tử tế chưa phải là tất cả tâm địa người đời.

Cây bút nào sẽ viết truyện “chưởng” này nhỉ?

4/10/2010

                                                                 
Nguồn: nguyentrongtao.org

Giá mà đừng lạc lá thư
Tôi đừng vụng dại, vần thơ đừng buồn


Nguyễn thế Duyên gửi: 10/10/2010 03:46

Nguyễn thế Duyên

(Đã bị khoá vì lý do: xúc phạm BĐH)

Đăng ký: 23/4/2010
Số bài: 318

Tiểu Thanh Đình đã viết:
Em nghĩ nếu anh ở địa vị cụ Tố Hữu anh sẽ lựa chọn thế nào?
(Dù là em đoán ra câu trả lời!)


Cô em Tiểu thanh đình ơi cô em nhầm rồi. Tôi đoan chắc là cô em không thể biết câu trả lời của tôi đâu vìcó một câu hỏi nữa mà tôi không viết vào bài này mà để cho mọi người suy ngẫm. Vì không thấy bé Tiểu Thanh đình nhắc đến vấn đề đó nên tôi đoan chắc bé không biết câu trả lời của tôi mà
  Câu hỏi mà tôi không nhắc đến trong bài này chính là

"Vậy cái sai của tố hữu là ở đâu"? Cô bé trảlời câu hỏi này thì đó chính là câu trả lời của tôi với câu của bé đấy

Nguyễn thế Duyên gửi: 10/10/2010 04:21

Nguyễn thế Duyên

(Đã bị khoá vì lý do: xúc phạm BĐH)

Đăng ký: 23/4/2010
Số bài: 318

KÍnh gửi anh Tường thuỵ

Tôi đã đọc bài viết anh ửi vào trang này. Rất cám ơn anh. Tôi không thấy phiền gì cả nhưng thú thật là tôi không thích bài viết của Lại Nguyên Ân> Tôi là người tôn trọng sự thật và tôn trọng sựkhách quan. Những điều mà Lại Nguyên Ân viết không phải là tôi không nghe nói đến. Tôi biét tất cả những điều đó nhưng khi viết một bài nhận định về một con người thì những điều thì thầm đâu đó lại không thể lấy làm cứ liệu. người viết phảithật khách quan không thể lấy sự yêu ghét của bảnthân mình để định hưống cho người đọc.
Khi nhận định về một con ngừoi đòi hỏi người viết phải trong sáng và đứng bên ngoài dư luận. Vì vậy tôi chỉ dùng chính thơ tố hữu để nói về Tố hưu mà không lấy bất cứ một lời đồn thổi nào khi viết về ông.Và thực ra tôi cũng rất thích thơ thời kì đầu của ông.
Cám ơn anh đã quan tâm đến bài viết của tôi

Tiểu Thanh Đình gửi: 10/10/2010 09:47

Tiểu Thanh Đình

Tiểu Thanh Đình

Đăng ký: 23/3/2008
Số bài: 1335

Tường Thụy đã viết:
Giờ anh mới thấy em Tiểu Thanh Đình "gớm mặt"
ka ka ka :))

Không phải vậy, vì em đã đọc một tác phẩm của anh Duyên có nói đến vấn đề này, có nghĩa là hiểu được một chút tâm và ý của anh Duyên.

Tiểu Thanh Đình gửi: 10/10/2010 10:18

Tiểu Thanh Đình

Tiểu Thanh Đình

Đăng ký: 23/3/2008
Số bài: 1335

Nguyễn thế Duyên đã viết:
Tiểu Thanh Đình đã viết:
Em nghĩ nếu anh ở địa vị cụ Tố Hữu anh sẽ lựa chọn thế nào?
(Dù là em đoán ra câu trả lời!)


Cô em Tiểu thanh đình ơi cô em nhầm rồi. Tôi đoan chắc là cô em không thể biết câu trả lời của tôi đâu vìcó một câu hỏi nữa mà tôi không viết vào bài này mà để cho mọi người suy ngẫm. Vì không thấy bé Tiểu Thanh đình nhắc đến vấn đề đó nên tôi đoan chắc bé không biết câu trả lời của tôi mà
  Câu hỏi mà tôi không nhắc đến trong bài này chính là

"Vậy cái sai của tố hữu là ở đâu"? Cô bé trảlời câu hỏi này thì đó chính là câu trả lời của tôi với câu của bé đấy

Em trích dẫn bài viết của chính anh ra trả lời nhé, đúng hay sai thì ....hì hì hì....


"Thấy chưa? Người ta chỉ viết khi trong lòng người ta khao khát mà người ta chỉ khao khát khi người ta không có. Chẳng biết có nên cám ơn ông trời không khi ông làm cho tôi không có gì cả để đêm đêm tôi hì hục viêt những khát khao của cuộc đời?
...
và phần anh giải nghĩa 2 câu thơ sau của Viên Mai (Trung quốc)
  Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch
  Lập thân tối hạ thị văn chương "
(Tản mạn chuyện văn và chuyện đời)

" -Cháu biết , ngày xưa bác đã từ bỏ con đường quan chức để chọn văn chương.
     -Không phải. –Anh xua tay –Phải nói thế này mới đúng :Ngày xưa, văn chương đã ngăn không cho bác theo con đường quan chức."
(Con tim không cần lý lẽ)

------------

Em thêm đoạn này:

Em không biết bình thơ nhưng em rất thích đoạn này:

"Tôi phải nói công bằng
 Ông_ Một nhà thơ có tài
Tập "Từ ấy" bây giờ tôi vẫn thuộc
Khi trái tim ông đau với nỗi đau dân tộc
Thơ ông bay lên qua song sắt nhà tù"


Còn đoạn này:

"Lúc bả hư danh lấy đi trong ông trái tim của nhà thơ
Là lúc thơ ông biến thành khẩu hiệu
Ông đã chết trong thơ"

Ông đã chết trong thơ hay Thơ đã chết trong ông? Em không biết nên hiểu thế nào đúng hơn? Vì đoạn trên anh đã viết:

"Với thơ đấy chính là lúc con tim của ông đã bị quyền lực đánh cắp. Trong ông không còn con tim nữa ,chỉ thuần túy còn lại là lý trí lạnh lùng. Thơ bắt nguồn từ con tim
                  Con tim nơi khởi nguồn
                  Của mọi bài thơ viết
                  Nhưng bài thơ kết thúc
                   Trong cái đầu suy tư "

letam gửi: 10/10/2010 23:08

letam

letam

Đăng ký: 6/12/2008
Số bài: 2683

@ Hãy để cho Tố Hữu yên nghỉ!
 Vui là chính - Chính là vui!

Trang trong tổng số 10 trang (95 bài viết)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối

 





© 2004-2014 Vanachi