Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
21 bài trả lời: 11 bản dịch, 10 thảo luận
3 người thích
Từ khoá: Tây Thi (20)
Đăng bởi Vanachi vào 26/12/2005 13:38, đã sửa 5 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 17/05/2009 01:55, số lượt xem: 5991

西施詠

艷色天下重,
西施寧久微。
朝為越溪女,
暮作吳宮妃。
賤日豈殊眾,
貴來方悟稀。
邀人傅脂粉,
不自著羅衣。
君寵益驍態,
君憐無是非。
當時浣紗伴,
莫得同車歸。
持謝鄰家子,
效顰安可希。

 

Tây Thi vịnh

Diễm sắc thiên hạ trọng,
Tây Thi ninh cửu vi.
Triêu vi Việt khê nữ,
Mộ tác Ngô cung phi.
Tiện nhật khởi thù chúng,
Quý lai phương ngộ hy.
Yêu nhân phó chi phấn,
Bất tự trước la y.
Quân sủng ích kiêu thái,
Quân liên vô thị phi.
Đương thì hoán sa bạn,
Mạc đắc đồng xa quy.
Trì tạ lân gia tử,
Hiệu tần an khả hy.

 

Dịch nghĩa

Vì thiên hạ trọng sắc đẹp,
Nên nàng Tây Thi lẽ nào ở trong cảnh nghèo.
Buổi sớm còn là cô gái (giặt lụa) bên khe (Nhược Da) nước Việt,
Buổi chiều đã là phi tần trong cung vua Ngô.
Thuở hàn vi nào đâu có khác gì mọi người,
Khi sang trọng rồi mới biết là hiếm có.
Nàng sai người thoa phấn thơm,
Nàng không tự mặc lấy áo lụa.
Được vua yêu quý, nàng càng thêm kiêu,
Vua thương không kể gì điều phải trái.
Những cô bạn thời ấy cũng giặt lụa,
Chẳng ai được ngồi cùng xe với nàng về cung vua.
Nàng nhắn đáp cô gái nhà hàng xóm,
Bắt chước nhăn mặt, đâu có mong được gì?

 


Tây Thi còn gọi là Tây Tử, họ Thi tên Di Quang, có nhan sắc, con của một người bán củi ở núi La nước Việt. Nàng thường giặt lụa ở khe Nhược Da (ở phía nam huyện Chư Kỵ tỉnh Chiết Giang), được Việt vương Câu Tiễn dùng làm kế mỹ nhân dâng Ngô vương Phù Sai, khiến Phù Sai say đắm, vì thế Câu Tiễn có cơ hội diệt được nước Ngô.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 3 trang (21 bài trả lời)
[1] [2] [3] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đông A

Sắc đẹp thiên hạ trọng
Há mãi hèn Tây Thi
Sớm bên khe Việt nữ
Chiều chính cung Ngô phi
Lúc nghèo đâu khác lạ
Khi sang quả hữu hi
Sai người thoa hương phấn
Chẳng tự mặc xiêm y
Vua yêu càng duyên dáng
Vua quý mặc thị phi
Bạn thuở xưa giặt lụa
Về cùng xe hòng chi
Nhắn cô ả bên xóm
Nhăn mặt mong được gì

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Tản Đà

Thế gian sắc đẹp ai bì
Tây Thi không nhẽ hàn vi suốt đời
Sớm còn gái Việt bên ngòi,
Cung Ngô tối đã lên ngồi cạnh vua.
Lúc hèn, ai chẳng hơn thua,
Khi sang mới biết đời chưa mấy người.
Phấn son gọi kẻ tô, giồi,
Áo là em mặc có người xỏ tay.
Vua yêu càng lắm vẻ hay,
Vua thương, phải trái mặc bay sá gì.
Giặt sa những bạn đương thì,
Cùng xe chẳng được đi về với ta.
Xin van cô ả bên nhà,
Cũng đòi "nhăn mặt" khó mà như nhau.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phí Minh Tâm

Thiên hạ trọng nhan sắc,
Tây Thi chịu kém chi.
Sáng đang gái nước Việt,
Chiều đã là Ngô phi.
Như người trong nghèo khó,
Cao sang ai sánh bì.
Sai hầu tô son phấn,
Tì nữ cởi xiêm y.
Vua yêu thêm kênh kiệu,
Vua chiếu lại thị phi.
Những bạn cùng giặt lụa,
Cùng xe chẳng được đi.
Nhắn bảo ả hàng xóm,
Chau mày ăn thua gì.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lê Văn Phong

Sắc đẹp thiên hạ mến,
Tây Thi hèn mãi sao?
Sáng bên bờ khe Việt,
Chiều giường ngự xôn xao.
Thưở nghèo như chúng bạn,
Phú quý một ngôi cao.
Kẻ hầu dâng hương phấn,
Quần áo có người trao.
Vua yêu càng nên giá,
Ba cung dám xì xào?
Bên sông cùng dệt lụa,
Riêng ai được đón vào.
Gái nhà bên nhăn mặt,
Cố mong bằng được sao?

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch nghĩa

VỊNH NÀNG TÂY THI
(Dịch nghĩa)

Vì thiên hạ trọng sắc đẹp,
Nên nàng Tây Thi lẽ nào ở trong cảnh nghèo.
Buổi sớm còn là cô gái (giặt lụa) bên khe (Nhược Da) nước Việt.
Buổi chiều đã là phi tần trong cung vua Ngô.
Thuở hàn vi nào đâu có khác gì mọi người.
Khi sang trọng rồi mới biết là hiếm có.
Nàng sai người thoa phấn thơm,
Nàng không tự mặc lấy áo lụa.
Được vua yêu quí, nàng càng thêm kiêu.
Vua thương không kể gì điều phải trái.
Những cô bạn thời ấy cũng giặt lụa.
Chẳng ai được ngồi cùng xe với nàng về cung vua.
Nàng nhắn đáp cô gái nhà hàng xóm.
Bắt chước nhăn mặt, đâu có mong được gì?

(Nguồn:  THƠ ĐƯỜNG - TẢN ĐÀ dịch, Nguyễn Quảng Tuân - Hội nghiên cứu giảng dạy văn học Tp. Hồ Chí Minh)

Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

dịch nghĩa

Cảm ơn bạn về bản dịch nghĩa. Tuy nhiên có chữ "kiều" ở câu 9 nghĩa là kiều diễm, đẹp, mà trong bản dịch nghĩa lại dịch thành "càng thêm kiêu", tôi ngờ bạn chép nhầm. Nhờ bạn kiểm tra lại giùm.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Về bản dịch nghĩa

@Vanachi! Mình đã xem lại, là chữ "kiêu". Chữ 嬌 , ngoài nghĩa "kiều"..., còn có nghĩa kiêu (!)... Hơn nữa, hình như mạch thơ lúc ấy đang đặc tả cái sự hơi "khó ưa" của giai nhân nên mình lại cũng thấy để chữ "kiêu" thì đắt hơn đó.
Vui chút thôi! Có lẽ cần kiểm chứng thêm một vài nguồn khác - Cũng đang rị mọ làm lại quyển THƠ ĐƯỜNG, TẢN ĐÀ dịch... để mừng sinh nhật 120 của cụ Tản, nên rất mừng khi có ý kiến của bạn. Trân trọng!

Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

kiêu/kiều

Mình tra các từ điển chữ này chỉ có nghĩa là đẹp chứ không có nghĩa là kiêu. Chữ kiêu phải là 驕 hoặc 憍.
Nếu sách viết là "kiêu" thì mình ngờ là in nhầm chữ, nếu không thì có thể Tản Đà dịch từ một dị bản nào chép ngộ chữ chăng (?).

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

kiều/kiêu

Bạn rất đúng, khi đa phần trên các Từ điển, 嬌 thường có danh như vậy; Nhưng vẫn có những bộ chú thêm: kiều, kiêu. (VD: Từ điển Hán Việt Thiều Chửu (Bô mới - Việt Hán Nôm)tra trực tuyến của Huesoft... Và, mình cũng có một bộ có giải tự là "kiêu" (hi hi, nhưng bộ của mình cũ quá rồi, lại không có đầu đuôi, nên không rõ là quyển gì nữa)).
Có lẽ cũng nên chú thích thêm: trên bản của thầy Tuân, câu 9 cũng được phiên là: "Quân sủng ích kiêu thái,".

(Xin lỗi Vanachi - Không hiểu trao đổi thế này có là phạm qui không? Nếu có sao thì các bạn bỏ quá cho nha!)


----------------------

Trên bản dịch bài "Vịnh Tây Thi" của Tản Đà, cụ có chua thêm nghĩa ở hai chữ "nhăn mặt" như sau: Xưa nàng Tây Thi lúc đau bụng, thường ôm bụng mà nhăn mặt lúc ấy lại rất đẹp thêm nhiều. Có con gái nhà láng giềng người rất xấu, cũng bắt chước ôm bụng nhăn mặt, người làng trông thấy phải khiếp sợ mà đóng cửa không dám thò mặt ra đường. (T.Đ)

Thử hữu tắc bỉ hữu
Thử vô tắc bỉ vô
Thử sinh tắc bỉ sinh
Thử diệt tắc bỉ diệt
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

kiều/kiêu

Mình thử google trên mạng thì có vẻ đều chép là chữ kiều 嬌, nhưng mới tra trong một cuốn sách chú giải thơ Vương Duy (Vương Ma Cật toàn tập tiên chú, xb tại Đài Loan), họ viết là chữ kiêu 驍, như vậy đúng là có chuyện dị bản. Mình sẽ bổ sung thêm chú thích về chữ này trong bài.
Xin cảm ơn và mong bạn cứ tự nhiên thảo luận.

PS: Ở trên mình chỉ nói chữ 嬌 không có nghĩa nào là kiêu căng, chứ về phiên âm thì tra trong Khang Hy từ điển cũng có nói có cả âm kiêu.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời

Trang trong tổng số 3 trang (21 bài trả lời)
[1] [2] [3] ›Trang sau »Trang cuối