Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Ngũ ngôn bát cú
Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
2 bài trả lời: 2 bản dịch
Đăng bởi hongha83 vào 18/11/2011 06:57, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi hongha83 vào 24/04/2016 03:23, số lượt xem: 690

鵑聲

古蜀已荒丘,
傷心何日休。
落花三月暮,
啼血幾聲流。
莊蝶難成夢,
坡園卻讓愁。
客中鄉思苦,
為汝怯登樓。

 

Quyên thanh

Cổ Thục dĩ hoang khâu,
Thương tâm hà nhật hưu.
Lạc hoa tam nguyệt mộ,
Đề huyết kỷ thanh lưu.
Trang điệp nan thành mộng,
Ba viên khước nhượng sầu.
Khách trung hương tứ khổ,
Vị nhữ khiếp đăng lâu.

 

Dịch nghĩa

Nước Thục hồi xưa đã thành gò hoang rồi,
Nhưng đau lòng biết ngày nào hết.
Hoa rụng cuối tháng ba,
Kêu mấy tiếng chảy máu.
Bướm Trang Chu khó thành giấc mơ,
Con vượn xứ Ba (véo von) cũng còn phải nhường mối sầu này.
Kẻ ở đất khách khổ tình nhớ quê hương,
Vì (tiếng kêu) của người má ợ bước lên lầu.

 


Nguồn: Sái Thuận - nhà thơ lớn đất cổ Kinh Bắc, Ty văn hoá và thông tin Hà Bắc, 1978.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Bùi Duy Tân, Đào Phương Bình

Nước Thục đã hoang tàn,
Lòng đau vẫn chứa chan.
Xuân tàn hoa cũng rụng,
Máu nhỏ tiếng còn ran.
Bướm liệng khôn thành giấc,
Vượn gào cũng kém phiền.
Nhớ quê dồn đất khách,
Lầu những biếng leo lên.

Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Nước xưa, nay phế hoang rồi
Lòng đau chẳng biết đến hồi nào nguôi
Tháng ba xuân vãn hoa rơi
Não nùng tiếng cuốc chưa vơi máu hường
Vượn gào đâu sánh sầu thương
Nỉ non lay gọi khôn vương giấc hồ
Xứ người chan chứa tình quê
Lầu cao thêm sợ đâu hề dám lên

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời