謁萬載祠堂

重門不掩雞聲午,
落花滿地紅無主。
荒涼故里木千章,
寂寞空山煙一縷。
浮雲富貴事已非,
汗竹功名終不朽。
客來感舊不勝情,
謁罷叢祠淚如雨。

 

Yết Vạn Tải từ đường

Trùng môn bất yểm kê thanh ngọ,
Lạc hoa mãn địa hồng vô chủ.
Hoang lương cố lý mộc thiên chương,
Tịch mịch không sơn yên nhất lũ.
Phù vân phú quý sự dĩ phi,
Hãn trúc công danh chung bất hủ.
Khách lai cảm cựu bất thăng tình,
Yết bãi tùng từ lệ như vũ.

 

Dịch nghĩa

Mấy lớp cửa không khép, tiếng gà gáy giữa trưa,
Hoa rụng đầy đất, màu hồng không có chủ.
Làng xưa hoang lạnh, cây cối hàng nghìn màu sắc,
Núi trơ tịch mịch, một làn khói nhỏ [bốc lên].
Cảnh giàu sang như mây nổi, đã không đáng kể,
Công danh lưu sử sách, rốt cuộc còn mãi.
Khách đến đây, trước cảnh cũ, lòng xiết bao xúc động,
Yết xong ngôi đền hoang rậm, nước mắt như mưa.

 


Nguồn: Thơ văn Lý Trần, NXB Khoa học xã hội, 1977

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Tuấn Nghi

Gà trưa xao xác, ngõ không cài,
Hoa rụng đỏ vườn, chủ ấy ai.
Nghìn cụm cây làng chen chúc mọc,
Một làn khói núi thảnh thơi bay.
Giàu sang mây nổi, đà lầm lỡ,
Sử sách lưu danh, chẳng nát phai.
Cảnh đấy người đây bao cảm cựu,
Thăm xong đền cổ, lệ rơi dài.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Xao xác gà trưa cổng chẳng cài
Đỏ vườn hoa rụng chủ là ai
Làng xưa hoang lạnh ngàn cây biếc
Núi cũ tiêu điều cụm khói bay
Mây nổi giầu sang đâu có nữa
Danh lưu sử sách mãi còn đây
Bùi ngùi trước cảnh khôn cầm được
Đền cổ thăm xong lệ chảy dài

Chia sẻ trên FacebookTrả lời