和阮運同遣悶詩韻其三

利人為我總心勞,
頂踵何如拔一毛。
怪事嗟哉殷咄咄,
今年狂甚點嘐嘐。
運斤已幸無林櫟,
涉濟寧須苦葉匏。
吾道若無知己在,
望窮四海目空蒿。

 

Hoạ Nguyễn Vận Đồng "Khiển muộn" vận kỳ 3

Lợi nhân vị ngã tổng tâm lao,
Đính chủng hà như bạt nhất mao.
Quái sự ta tai Ân đốt đốt,
Kim niên cuồng thậm Điểm hao hao.
Vân cân dĩ hạnh vô lâm lịch,
Thiệp tế ninh tu khổ diệp bào.
Ngô đạo nhược vô tri kỷ tại,
Vọng cùng tứ hải mục không hao.

 

Dịch nghĩa

Lợi người, vì mình, điều phải nhọc lòng.
Mệt đầu đến chân sao như nhổ một cái lông?
Thương thay việc lạ để Ân Hạo phải sửng sốt,
Năm nay thất thường làm Tăng Điểm ngông nghênh.
Múa rìu, cũng may không phải là gỗ cây lịch rừng,
Vượt sông, nào cần đến quả bầu đắng.
Đạo ta nếu không có người tri kỷ,
Trông khắp bốn biển, luồng những gai mắt.

 


Nguồn: Thơ văn Lý Trần, NXB Khoa học xã hội, 1977