Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Cổ phong (cổ thể)
Thời kỳ: Nguyễn
11 bài trả lời: 10 bản dịch, 1 thảo luận
8 người thích
Từ khoá: Thăng Long (39) ca nữ (11) ca giả (26) thơ sách giáo khoa (421) Văn học 10 [1990-2006] (49)
Đăng bởi Vanachi vào 13/07/2005 19:39, đã sửa 9 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 26/03/2015 22:01, số lượt xem: 26975

龍城琴者歌

龍城佳人
不記名字
獨善絃琴
舉城之人以琴名
學得先朝宮中供奉曲
自是天上人間第一聲
余在少年曾一見
監湖湖邊夜開宴
此時三七正芳年
春風掩映桃花面
酡顏憨態最宜人
歷亂五聲隨手變
緩如涼風度松林
清如隻鶴鳴在陰
烈如荐福碑頭碎霹靋
哀如莊舄病中為越吟
聽者靡靡不知倦
盡是中和大內音
西山諸臣滿座盡傾倒
徹夜追歡不知曉
左拋右擲爭纏頭
泥土金錢殊草草
豪華意氣凌公侯
五陵年少不足道
并將三十六宮春
換取長安無賈寶
此夕回頭二十年
西山敗後余南遷
咫尺龍城不復見
何況城中歌舞莚
宣撫使君為余重買笑
席中歌妓皆年少
席末一人髮半華
顏醜神枯形略小
狼藉殘眉不飾粧
誰知便是當年城中第一調
舊曲新聲暗淚垂
耳中靜聽心中悲
猛然億起二十年前事
監湖湖邊曾見之
城郭推移人事改
幾度桑田變蒼海
西山基業一旦盡消亡
歌舞空留一人在
瞬息百年曾幾時
傷心往事淚沾衣
南河歸來頭盡白
怪底佳人顏色衰
雙眼瞪瞪 空想像
可憐對面不相知

 

Long thành cầm giả ca

Long thành giai nhân
Bất ký danh tự
Ðộc thiện huyền cầm
Cử thành chi nhân dĩ Cầm danh
Học đắc tiên triều cung trung "Cung phụng" khúc
Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh
Dư tại thiếu niên tằng nhất kiến
Giám Hồ hồ biên dạ khai yến
Thử thời tam thất chánh phương niên
Xuân phong yểm ánh đào hoa diện
Ðà nhan hám thái tối nghi nhân
Lịch loạn ngũ thanh tuỳ thủ biến
Hoãn như luơng phong độ tùng lâm
Thanh như chích hạc minh tại âm
Liệt như Tiến Phúc bi đầu toái phích lịch
Ai như Trang Tích bịnh trung vi Việt ngâm
Thính giả mỹ mỹ bất tri quyện
Tận thị Trung Hoà Ðại Nội âm
Tây Sơn chư thần mãn toạ tận khuynh đảo
Triệt dạ truy hoan bất tri hiểu
Tả phao hữu trịch tranh triền đầu
Nê thổ kim tiền thù thảo thảo
Hào hoa ý khí lăng công hầu
Ngũ Lăng niên thiếu bất túc đạo
Tính tương tam thập lục cung xuân
Hoán thủ Trường An vô giá bảo
Thử tịch hồi đầu nhị thập niên
Tây Sơn bại hậu dư Nam thiên
Chỉ xích Long Thành bất phục kiên (kiến)
Hà huống thành trung ca vũ diên
Tuyên phủ sứ quân vị dư trùng mãi tiếu
Tịch trung ca kỹ giai niên thiếu
Tịch mạt nhất nhân phát bán hoa
Nhan xú thần khô hình lược tiểu
Lang tạ tàn my bất sức trang
Thuỳ tri tiện thị đương niên thành trung đệ nhất điệu
Cựu khúc tân thanh ám lệ thuỳ
Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi
Mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự
Giám Hồ hồ biên tằng kiến chi
Thành quách suy di nhân sự cải
Kỷ độ tang điền biến thương hải
Tây Sơn cơ nghiệp nhất đán tận tiêu vong
Ca vũ không lưu nhất nhân tại
Thuấn tức bách niên tằng kỷ thì
Thương tâm vãng sự lệ triêm y
Nam Hà quy lai đầu tận bạch
Quái để giai nhân nhan sắc suy
Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng
Khả liên đối diện bất tương tri.

 

Dịch nghĩa

Người đẹp Long Thành
Họ tên không được biết
Riêng thạo đàn huyền cầm
Dân trong thành gọi nàng là cô Cầm
Gảy khúc "Cung phụng" từ triều vua xưa
Một khúc đàn hay tuyệt từ trời đưa xuống thế gian.
Nhớ hồi trẻ tôi đã gặp nàng một lần
Bên hồ Giám trong một đêm yến tiệc
Tuổi cô cỡ hai mươi mốt
Áo hồng ánh lên khuôn mặt đẹp như hoa
Rượu đậm thêm nét mặt ngây thơ khả ái
Ngón tay lướt năm cung réo rắt
Tiếng khoan như gió thổi qua rừng thông
Thanh trong như đôi hạc kêu nơi xa xôi
Mạnh như sét đánh tan bia Tiến Phúc
Sầu bi như Trang Tích lúc đau ốm ngâm rên tiếng Việt
Người nghe nàng say sưa không biết mệt
Trong khúc nhạc đại nội Trung Hoà.
Quan tướng nhà Tây say rượu nghiêng ngả
Lo vui chơi suốt đêm không nghỉ
Bên phải bên trái tranh nhau cho thưởng
Tiền bạc coi thường có nghĩa chi.
Vẻ hào hoa hơn bậc vương hầu
Giới trẻ nơi Ngũ Lăng không đáng kể
Dường như ba mươi sáu cung xuân
Nay Tràng An đã hun đúc được một báu vật vô giá.
Trong đầu nhớ lại đã hai mươi năm
Tây sơn thua bại, tôi vào Nam
Long Thành gần mà cũng chẳng được thấy
Còn nói chi đến chuyện múa hát trong thành.
Nay Tuyên phủ sứ bày cuộc vui đãi tôi
Ca kỹ trẻ xinh cả một đám
Chỉ có một kẽ tóc hoa râm ngồi cuối phòng
Mặt xấu, sắc khô, người hơi nhỏ
Mày phờ phạc không điểm phấn tô son
Sao mà đoán được người này là đệ nhất danh ca một thời.
Điệu nhạc xưa làm ta thầm nhỏ lệ
Lắng tai nghe lòng càng đau xót
Tự nhiên nhớ lại hai mươi năm trước
Bên hồ Giám trong dạ tiệc ta đã thấy nàng
Thành quách đã chuyển, người cũng đổi thay
Nương dâu trở thành biển cả đã nhiều
Cơ nghiệp Tây sơn cũng đà tiêu tán
Sót lại đây còn người múa ca.
Thấm thoắt trăm năm có là bao
Cảm thương chuyện cũ dùng áo thấm nước mắt
Ta từ Nam trở lại, đầu bạc trắng
Trách làm sao được sắc đẹp cũng suy tàn.
Hai mắt trừng lên tưởng nhớ chuyện xưa
Thương cho đối mặt mà chẳng nhìn nhận ra nhau.

 


Truyện Kiều theo tài liệu lưu trữ, đã được Nguyễn Du làm trong thời gian đi sứ. Nếu đúng như vậy thì câu chuyện trong bài thơ chữ Hán Long thành cầm giả ca này có lẽ là một trong những nguồn hứng để Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều.

Tiểu dẫn của tác giả:
Long Thành Cầm giả, bất tri tính thị. Văn kỳ ấu niên tòng học bát Nguyễn cầm ư Lê cung Hoa tần bộ trung. Tây Sơn binh khởi, cựu nhạc tử tán, kỳ nhân lưu lạc thị triền, hiệp kỹ dĩ ngao, thuộc tản bộ. Sở đàn giai ngự tiền cung phụng khúc, phi ngoại nhân sở văn, toại xưng nhất thời tuyệt kỹ. Dư thiếu thời, thám huynh để kinh, lữ túc Giám hồ điếm. Kỳ bàng Tây Sơn chư thần đại tập nữ nhạc, danh cơ bất hạ sổ thập. Kỳ nhân độc dĩ Nguyễn cầm thanh thiện trường. Phả năng ca, tác bài hài ngữ, nhất toạ tận điên đảo. Sác thưởng dĩ đại bạch, Triếp tận, triền đầu vô toán, kim bạch uỷ tích mãn địa. Dư thời nặc thân ám trung, bất thậm minh bạch. Hậu kiến chi huynh xứ, đoản thân khoát kiểm, ngạch đột diện ao, bất thậm lệ, cơ bạch nhi thể phong, thiện tu sức, đạm mi nùng phấn, ý dĩ hồng thuý tiêu thường, xước xước nhiên hữu dư vận. Tính thiện ẩm, hỉ lãng hước, nhãn hoắc hoắc, khuông trung vô nhất nhân. Tại huynh gia mỗi ẩm triếp tận tuý, ẩu thổ lang tạ, ngoạ địa thượng, đồng bối phi chi bất tuất dã. Hậu sổ tải, Dư tòng gia nam quy, bất đáo Long Thành nhược thập niên hĩ. Kim xuân tương phụng mệnh Bắc sứ, đạo kinh Long Thành. Chư công nhục tiễn vu Tuyên phủ nha, tất triệu tại thành nữ nhạc, thiếu cơ sổ thập, tịnh bất thức danh diện, điệt khởi ca vũ, kế văn cầm thanh thanh việt, quýnh dị thời khúc, tâm dị chi. Thị kỳ nhân, nhan sấu thần khô, diện hắc, sắc như quỷ, y phục tịnh thô bố, bại hôi sắc, đa bạch bổ, mặc toạ tịch mạt, bất ngôn diệc bất tiếu, kỳ trạng đãi bất kham giả, bất phục tri vi thuỳ hà. Duy vu cầm thanh trung tự tằng tương thức, trắc nhiên vu tâm. Tịch tán, chất chi nhạc nhân, tức kỳ nhân dã. Ta hồ! Thị nhân hà chí thử da! Phủ ngưỡng bồi hồi, bất thắng kim tích chi cảm. Nhân sinh bách niên, vinh nhục ai lạc, kỳ khả lượng da. Biệt hậu, nhất lộ thượng, thâm hữu cảm yên, nhân ca dĩ thác hứng.

龍城琴者。不知姓氏。聞其幼年從學撥阮琴於黎宮花嬪部中。西山兵起。舊樂死散。其人流落市廛。挾技以遨。屬散部。所彈皆御前供奉曲。非外人所聞。遂稱一時絕技。余少時。探兄抵京。旅宿鑑湖店。其傍西山諸臣大集女樂。名姬不下數十。其人獨以阮琴聲擅場。頗能歌。作俳諧語。一坐盡顚倒。數賞以大白。輒盡。纏頭無算。金帛委積滿地。余時匿身暗中。不甚明白。後見之兄處。短身闊臉。額凸面凹。不甚麗。肌白而體豐。善修飾。淡眉濃粉。衣以紅翠綃裳。綽綽然有餘韻。性善飲。喜浪謔。眼矐矐。眶中無一人。在兄家每飲輒盡醉。嘔吐狼藉。臥地上。同輩非之。不恤也。後數載。余從家南歸。不到龍城若十年矣。今春將奉命北使。道經龍城。諸公辱餞于宣撫衙。畢召在城女樂。少姬數十。並不識名面。迭起歌舞。繼聞琴聲清越。迥異時曲。心異之。視其人。顏瘦神枯。面黑。色如鬼。衣服並粗布。敗灰色。多白補。默坐席末。不言亦不笑。其狀殆不堪者。不復知爲誰何。惟於琴聲中似曾相識。側然于心。席散。質之樂人。即其人也。嗟乎。是人何至此耶。俯仰徘徊。不勝今昔之感。人生百年。榮辱哀樂其可量耶。別後。一路上。深有感焉。因歌以托興。

(Người gảy đàn đất Long Thành không rõ họ tên là gì. Nghe nói thuở nhỏ, nàng học đàn Nguyễn trong đội nữ nhạc ở cung vua Lê. Quân Tây Sơn kéo ra, các đội nhạc cũ người chết, kẻ bỏ đi. Nàng lưu lạc ở các chợ ôm đàn hát rong. Những bài nàng gảy đều là những khúc cung phụng gảy cho vua nghe, người ngoài không hề được biết, cho nên tài nghệ của nàng nổi tiếng hay nhất một thời.
Hồi còn trẻ (1792-1793?), tôi đến kinh đô thăm anh tôi (Nguyễn Nễ), ở trọ gần Giám hồ (hồ Gương). Cạnh đó các quan Tây Sơn mở cuộc hát lớn, con hát đẹp có đến vài chục người. Nàng nỗi tiếng nhờ ngón đàn Nguyễn. Nàng hát cũng hay và khéo nói khôi hài, mọi người say mê, đua nhau ban thưởng từng chén rượu lớn, nàng uống hết ngay, tiền thưởng nhiều vô kể, tiền và lụa chồng đầy mặt đất. Lúc ấy tôi nấp trong bóng tối, không thấy rõ lắm. Sau được gặp ở nhà anh tôi. Nàng người thấp, má bầu, trán giô, mặt gẫy, không đẹp lắm, nhưng mước da trắng trẻo, thân hình đẫy đà, khéo trang điểm, lông mày thanh, má đánh phấn, áo màu hồng, quần lụa cánh chả, có vẻ phong nhã. Nàng hay uống rượu, hay nói pha trò, con mắt long lanh, không coi ai ra gì. Khi ở nhà anh tôi mỗi lần uống rượu thì nàng uống say đến nỗi nôn bừa bãi, nằm lăn ra đất, các bạn có chê trách cũng không lấy làm điều. Sau đó vài năm, tôi rời nhà về Nam (Thái Bình), mấy năm liền không trở lại Long Thành.
Mùa xuân năm nay (1813) tôi lại phụng mệnh sang sứ Trung Quốc, đi qua Long Thành. Các bạn mở tiệc tiễn tôi ở dinh Tuyên phủ, có gọi tất cả vài chục nữ nhạc, tôi đều không biết mặt biết tên. Chị em thay nhau múa hát. Rồi nghe một khúc đàn Nguyễn trong trẻo nổi lên, khác hẳn những khúc thường nghe, tôi lấy làm lạ, nhìn người gảy đàn thì thấy một chị gầy gò, vẻ tiều tuỵ, sắc mặt đen sạm, xấu như quỷ, áo quần mặc toàn vải thô bạc thếch, vá nhiều mảnh trắng, ngồi im lặng ở cuối chiếu, chẳng hề nói cười, hình dáng thật khó coi. Tôi không biết nàng là ai, nhưng nghe tiếng đàn thì dường như đã quen biết, nên động lòng thương. Tiệc xong, hỏi thì chính là người trước kia đã gặp.
Than ôi! Người ấy sao đến nỗi thế! Tôi bồi hồi, không yên, ngửng lên cúi xuống, ngậm ngùi cho cảnh xưa và nay. Người ta trong cõi trăm năm, những sự vinh nhục buồn vui thật không lường được. Sau khi từ biệt trên đường đi, cảm thương vô hạn nên làm bài ca sau, để ghi lại mối cảm hứng.)
Bài thơ này được sử dụng làm bài đọc thêm trong chương trình SGK Văn học 10 giai đoạn 1990-2006.

Nguồn: Thơ chữ Hán Nguyễn Du, NXB Văn học, 1978

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 2 trang (11 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Bản dịch của Học Canh

Thành Thăng Long nhớ từ thuở nọ
Bậc giai nhân tên họ ai hay
Ðàn cầm thánh thoát mấy dây
Khắp thành quen miệng gọi ngay Nàng Cầm
"Cung Phụng khúc" xưa ngâm trong Nội
Phổ nên chương tiếng nổi một thời
Nhớ ngày đương độ vui chơi
Giám hồ yến tiệc gặp người tài hoa
Tuổi hăm mốt nõn nà lộng lẫy
Gió xuân êm hây hẩy bông đào
Men tô duyên não nùng sao
Nỉ non năm tiếng thấp cao tuyệt vời
Theo tay ngọc lòng người ủ rũ
Tiếng bổng trầm to nhỏ miên man
Khoan như gió lướt thông ngàn
Trong như tiếng hạc lạc đàn kêu sương
Mạnh như sấm phũ phàng xé đá
Tiến Phúc bia nổ phá ầm ầm
Buồn như khúc Việt ai ngâm
Nỗi lòng Trang Tích âm thầm mà đau
Ðiệu êm ấm nghe lâu chẳng mỏi
Chính khúc này đại nội triều xưa
Tây Sơn quân tướng thẫn thờ
Ngả nghiêng đến sáng còn chưa thỏa lòng
Quăng lụa thưởng tây đông tíu tít
Vàng tựa bùn cứ việc vung tay
Công hầu hào khí đua say
Ngũ lăng niên thiếu một bày sá chi
Dạo khúc xuân diễm kỳ lả lướt
Băm sáu cung thánh thót xinh xinh
Tràng An treo ngọc liên thành
Phẩm cao vô giá, tài tình riêng ai
Thoảng hai chục năm trời từ đấy
Tây Sơn thua, ta trẩy Nam Hà
Long Thành gang tấc còn xa
Ðiệu xưa nhớ mấy cũng là đành thôi
Tuyên phủ sứ lại mời dự tiệc
Thiếu chi người mày biếc má hồng
Cuối bàn phảng phất não nùng
Một nàng đầu tóc hình dung bơ phờ
Mình gầy võ mày thưa duyên nhạt
Ai biết nàng oanh liệt xưa kia
Khúc đâu lệ chảy đầm đìa
Khiến người nghe những đê mê xót thầm
Chợt nhớ lại bao năm chuyện cũ
Từng bên ai vui thú hồ xưa
Thành tàn duyên cũng xác xơ
Ngậm ngùi mấy cuộc biển mờ dâu xanh
Rồi một sớm bại thành là thế
Cảm khúc ca trời để một người
Trăm năm một thoáng bao dài
Ngậm ngùi chuyện cũ cho đời buồn đau
Ở Nam về, mái đầu đã bạc
Người đẹp xưa cũng khác hình xưa
Giương đôi mắt ngó mà mơ
Thảm thay ai biết bây giờ là ai

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phụng Vũ Cửu Thiên

Người đẹp Long Thành
Chẳng nhớ tên họ
Quen ngón đàn tơ
Dân thành quen gọi là cô đánh đàn
Xưa tiên triều học Cung Phụng khúc
Vốn thanh âm đệ nhất thế gian.
Ngày nhỏ ta từng được gặp nàng
Bên hồ Giám trong một đêm yến tiệc
Đang đương độ xuân xanh hăm mốt
Gió trời đưa ánh đào hồng biếc
Rượu nồng càng thêm nét thơ ngây.
Ngũ cung lả lướt từng ngón tay.

Khoan như gió thoảng qua rừng thông
Nhặt như tiếng hạc lẻ âm thầm
Mạnh như sét đánh tan bia Tiến Phúc
Sầu như tiếng Việt Trang Tích ngâm.
Người nghe mê mệt chẳng muốn dứt
Tận Trung Hoà đại nội thành Thăng Long.
Quân Tây Sơn say ngà say ngật
Chỉ muốn vui chơi suốt đêm thâu.
Tiền lụa thưởng trái quăng phải vất
Của cải khác chi bùn đất nâu.
Hào hoa tựa bậc vương hầu
Ngũ Lăng niên thiếu kể chi đâu
Ba mươi sáu cung xuân hun đúc
Tràng An nay được một bảo vật
Nhớ lại, giờ hai chục năm sau
Tây Sơn bại trận, ta vào phương Nam.

Long Thành gần mà còn chẳng thấy
Thì nói chi tới chuyện hát ca
Nay Tuyên phủ bày cuộc đãi ta
Ca kỹ trẻ xinh ngồi cả đám
Chỉ một kẻ tóc hoa râm ảm đạm
Mặt xấu, dáng nhỏ, người khô héo
Tàn tạ làn my chẳng điểm trang
Nào ai có biết nàng
Một thời đệ nhất thế gian ?
Tiếng tơ xưa làm ta thầm nhỏ lệ
Lắng tai nghe chợt thấy dạ xót xa
Nhớ lại ngày ấy, ở chốn quê nhà
Bên hồ Giám người đàn trong yến tiệc
Nương dâu thành biển cả biêng biếc
Thành quách chuyển, người cũng đổi thay
Cơ nghiệp Tây Sơn giờ đã tận
Chỉ còn người ca vũ sót lại đây
Trăm năm thấm thoắt có là vậy
Cám thương nước mắt thấm xiêm y
Nam Hà trở về đầu bạc trắng
Hỏi làm sao nhan sắc chẳng tàn suy
Giương mắt ngó về nơi nào xa lắm
Thương nhau mà đối diện chẳng biết chi.

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đặng Thế Kiệt

Tên họ chi ta không biết rõ
Thạo Nguyễn cầm nên có tên Cầm
Khúc kia Cung Phụng nhất trần
Ngày thơ được học nhạc thần chầu vua
Đã một lần thuở xưa gặp gỡ
Bên bờ hồ cuộc dạ yến sang
Tuổi hai mươi mốt cô nàng
Mặt hoa áo thắm còn tham rượu nồng
Theo ngón tay năm cung réo rắt
Tiếng khoan như gió mát rừng thông
Hạc kêu cao thẳm: tiếng trong
Mạnh như sét đánh vỡ tung bia mồ
Buồn: Trang Tịch ngâm thơ tiếng Việt
Người nghe say chẳng biết mỏi a
Khúc đâu đại nội Trung Hoà
Tây Sơn quan chức nghe mà đảo điên
Mải vui suốt cả đêm không chán
Hai bên người tranh cạnh thưởng tài,
Tiền như bùn đất vãi rơi.
Đào hoa ý khí vượt nơi vương hầu
Đám Ngũ Lăng còn đâu đáng kể
Băm sáu cung xuân để mà coi
Đúc chung vật báu trên đời
Của kia vô giá đất trời Trường An
Nay đã hai mươi năm tiệc ấy
Sau Tây Sơn chiến bại, vào Nam
Long Thành chẳng thấy tấc gang
Huống chi tiệc múa mơ màng thành xưa
Quan Tuyên Phủ vui mua cuộc hát
Đám ca cơ tươi mát xuân xanh
Mà sao một mái hoa râm
Mặt gầy khô héo nhỏ thân hình hài
Không điểm tô nét mày phờ phạc
Ai biết từng đệ nhất tài danh
Khúc xưa réo rắt dây đàn
Nghe tuôn nước mắt từng làn âm thanh
Tai lắng nghe mà đành chua xót
Hai mươi năm chuyện trước là đây
Bên hồ chiếu tiệc mê say
Đã từng gặp gỡ những ngày thơ ngây
Thành quách suy việc thay người đổi
Bao nương dâu thành bãi biển xanh
Tây Sơn cơ nghiệp tan tành
Trong làng múa hát còn đành một ai
Một cuộc thế không đầy chớp mắt
Cảm việc xưa lệ ướt áo này
Từ Nam về tóc trắng mây
Trách chi người đẹp tàn phai má đào
Trừng trừng hai mắt nhìn nhau
Cố nhân chẳng biết khác nào người dưng

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Nói thêm về thi phẩm Long thành cầm giả ca của Nguyễn Du.

Giới thiệu Long thành cầm giả ca của Nguyễn Du.

Đây là bài thơ duy nhất, Nguyễn Du nhắc đến nhà Tây Sơn. Và qua hình ảnh  “cả cái cơ nghiệp vĩ đại… chỉ còn lại có mỗi một cô ca sĩ già”, nhà thơ đã đau lòng để nước mắt rơi ướt áo...

Long thành cầm giả ca (龍城琴者歌) do thi hào Nguyễn Du (阮攸; 1765–1820) sáng tác trong khoảng thời gian đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc) vào năm 1813 đến năm 1914. Bài thơ này cùng với Truyện Kiều, Điếu La Thành ca giả, Độc Tiểu Thanh kí...được giới chuyên môn đánh giá là những thi phẩm bộc lộ rõ nét nỗi thương xót chân thành của tác giả về những kiếp người bất hạnh, nhất là những phụ nữ khổ đau, bị vùi dập trong xã hội thời phong kiến của Việt Nam.

Đây là thi phẩm (Bài ca về người gảy đàn ở Thăng Long) được xếp đầu tiên trong Bắc hành tạp lục (北行雜錄), gồm 131 bài thơ. (số lượng ghi theo Ngữ văn 10, Nxb Giáo dục, 2008, tr. 94). Và trong cả tập thơ chỉ có bài thơ này và bài Thăng Long (gồm hai bài thơ ngắn), mang đề tài trên đất nước Việt Nam; số còn lại, Nguyễn Du đều lấy những đề tài lịch sử và những điều tai nghe mắt thấy trên con đường đi sứ sang Trung Quốc trong quãng thời gian ghi trên.

Thi phẩm được viết theo thể thơ “ca” và “hành”, hoặc gọi chung là “ca hành”.
Đây là một thể thơ cổ, có nguồn gốc từ ''thơ Nhạc phủ'' đời nhà Hán (Trung Quốc). Cổ Nhạc phủ có những bài như “Đoản ca hành”, Trường ca hành”, "Phụ bệnh hành"...Thông thường thì nó tường thuật một cảnh ngộ mà nhà thơ bất chợt nhìn thấy hoặc nghe kể lại, đồng thời nó nói lên những cảm nghĩ của nhà thơ trước tình cảnh đó. Nói gọn, thể “ca hành” đều dài, không hạn chế câu chữ, không cần niêm, đối chặt chẽ; và đều có tính tự sự, tính trữ tình.
Ngoài ''Long Thành cầm giả ca'', Nguyễn Du còn viết Sở kiến hành theo thể thơ này.

Trích một vài nhận định:
Vô luận là “người con hát La Thành”, “Tiểu Thanh” hay là “người đánh đàn Nguyễn” đất Long Thành, họ đều là những người con gái có tài sắc và đều bị đánh vùi. Cũng như “Thúy Kiều”, những hình ảnh đó đều mang tính điển hình sâu sắc, phản ảnh hiện thực xã hội đương thời và đều đã tố cáo mạnh mẽ tính chất tàn nhẫn của xã hội đó.

Điểm lược lại một phần tiểu sử Nguyễn Du, để hiểu thêm nỗi lòng của ông trong bài thơ.

Trần Thị Tần (1740-1778), vợ quan Tư đồ Nguyễn Nghiễm (1708-1775), và là mẹ Nguyễn Du, sinh con trai đầu lòng lúc bà mới 17 tuổi. Sau bà còn có năm bà khác nữa, tuổi cũng xấp xỉ như nhau. ''Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền'' tất nhiên không nói, nhưng rõ ràng các bà không phải xuất thân ca kỹ, thì cũng vì có chút nhan sắc mà trở thành nàng hầu của quan lớn họ Nguyễn trên.
Lại nữa, sau khi cha và mẹ đều mất, 13 tuổi, Nguyễn Du phải đến ở với người anh khác mẹ hơn mình 31 tuổi, đó là quan Tham Tụng Nguyễn Khản (1734-1786). Đời sống ông anh họ này có ảnh hưởng rất lớn đối với nhà thơ. Ông Khản thi đỗ sớm, làm quan to, lại là một con người tài hoa, phong lưu rất mực. Phạm Đình Hổ, tác giả Vũ Trung tùy bút, chép:

“Ông Nguyễn Khản ham thích hát xướng, gặp khi con hát tang trở, cũng cứ cho nó tiền bắt hát, không lúc nào bỏ tiếng tơ tiếng trúc. Khi ông có tang quan Tư đồ (tức Nguyễn Nghiễm), ngày rỗi cũng vẫn sai con hát đồ khúc gọi là “ngâm thơ nôm”. Bọn con em họ quí thích đều bắt chước chơi bời, hầu như thành thói quen”.

Thuở nhỏ sống trong hoàn cảnh như vậy. Cái hoàn cảnh mà những người có chút nhan sắc hay có giọng hát hay, phải đem ra làm trò chơi cho kẻ quyền quí. Cho nên, trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Du, như: ''Truyện Kiều'', Văn tế thập loại chúng sinh, ''Long Thành cầm giả ca''...khi nói về họ, ông đều có thái độ trìu mến, xót thương và xem họ như những người ruột thịt.

Trước 1975, GS. Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam có nói đến một khía cạnh khác của bài thơ:
Từ xưa, người ta cứ cho rằng Nguyễn Du u uất vì mang mối tình với nhà Lê...Nhưng trong suốt sự nghiệp thơ văn chữ Hán của ông không có một nét nào cho thấy ông ghét Nguyễn, thương Lê cả. Ngay đến nhà Tây Sơn, Nguyễn Du còn chẳng tỏ vẻ gì thù ghét...mà còn đi ăn yến dự tiệc với các quan Tây Sơn như ông đã mô tả trong ''Long Thành cầm giả ca''.
Hơn thế nữa, khi Tây Sơn thất bại, Nguyễn Du còn cảm thấy đau đớn, tiếc thương…nhất là khi nhìn thấy tất cả cái cơ nghiệp vĩ đại của nhà Tây Sơn chỉ còn lại có mỗi một cô ca sĩ già, nhà thơ đã đau lòng để nước mắt rơi ướt áo...
Như vậy cái tâm sự thầm kín, u uất mà Nguyễn Du không biết nói với ai, hẳn không phải tấm lòng hoài Lê, mà phải là cái gì thắm thiết, gắn liền với thân phận ông hơn…

Năm 2004, GS. Nguyễn Lộc trong Từ điển văn học (bộ mới), cũng nêu ý tương tự:
Long thành cầm giả ca là tác phẩm viết về một con người tài hoa một thời, bây giờ nhan sắc tiều tụy, không còn ai chú ý đến nữa. Nhà thơ tỏ lòng xót thương ngậm ngùi của mình, và nghĩ đến cuộc đời dâu bể.
Bài thơ mang một tinh thần nhân đạo cao cả. Nhưng nó có một khía cạnh rất đáng chú ý là chính trong bài này, lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, Nguyễn Du nhắc đến nhà Tây Sơn. Thái độ của ông thế nào thật khó hiểu. Bài thơ không có tí gì gọi lả thù địch với Tây Sơn, mà trái lại, trong khi thương xót cho số phận của người ca nữ, nhà thơ lại có vẻ như ngậm ngùi cho sự sụp đổ của họ. Phải chăng đến giai đoạn này, do có nhiều thể nghiệm về cuộc sống, cho nên cách nhìn nhận của nhà thơ đối với triều đại trên có thay đổi gần với chân lý hơn…

Trong '''Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông...''' còn nêu thêm một khía cạnh khác.
Lược theo Gs. Nguyễn Huệ Chi, thì trong Long Thành cầm giả ca, Nguyễn Du đã kể lại hai lần gặp gỡ một cô đào hát tên Cầm. Và từ cái biến đổi “nhãn tiền” của cô, nước mắt nhà thơ đã ướt đẫm vạt áo:
Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan sạch,
Trong làng múa hát còn sót lại một người!
Trăm năm thấm thoát trong một hơi thở một nháy mắt,
Cảm thương việc cũ lệ thấm áo...
Những giọt nước mắt kia, ngoài việc dành cho sự biến đổi chóng vánh của cuộc đời; nói rộng hơn và siêu hình hơn, theo giáo sư, nó còn dành cho nỗi buồn rầu về những gì “càng tài năng, càng thanh sắc” thì càng bị hủy diệt nhanh chóng. Và lúc bấy giờ, trong đầu Nguyễn Du, những lực lượng tàn phá ''mọi cái hay cái đẹp'' của xã hội chỉ có thể tổng quát thành "số mệnh", như ''số mệnh'' làm cho làm cho cơ nghiệp Tây Sơn sụp đổ...
Sau này, ở bài ''Sở Bá Vương mộ'', nhà thơ cũng đã đổ cho số mệnh:
Có sức mạnh dời núi nhắc vạc, nhưng trời không giúp thì làm thế nào?
Mối hận nghìn đời, đành gửi dưới lớp cát mỏng ...
Và cũng chính số mệnh đã vùi dập cuộc đời của Tiểu Thanh (Độc Tiểu Thanh ký), của Thúy Kiều - Từ Hải, hai nhân vật tiêu biểu nhất cho “tài và tình…” Các nghiên cứu Truyện Kiều trước 1975 ở Sài Gòn, như Thanh Lãng, Thạch Trung Giả, thường dùng cụm từ “tài mệnh tương đố” hay "tài mệnh tương phương" để chỉ vấn đề này.

***

Bài thơ kể về hai lần gặp người gảy đàn này là cả một câu chuyện buồn. Trên cái trục thời gian 20 năm là hai bữa tiệc quan, là thăng và trầm, là hưng thịnh và tiêu vong, là vinh và nhục, là trẻ đẹp, tài hoa và đầu bạc, phai tàn... Quá khứ hiện về trong hiện tại mà tiếng đàn xưa và tiếng đàn nay đã làm rơi bao nước măt, tê tái đau xót “như xé tấc son”...
Trải qua mấy chục năm dài loạn lạc, nếm đủ mùi cay đắng nghiệt ngã, người gảy đàn ở Long thành đã là một chứng nhân lịch sử, và đã cùng tác giả trở thành số phận lịch sử.
Mặt khác, nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai yếu tố tự sự và trữ tình, thi phẩm đã thể hiện được một tinh thần nhân đạo cao cả;  đã làm lay động lòng người đọc về cái nghịch lý giữa tài sắc và bạc mệnh, giữa tài tử với đa cùng... giúp người đọc thấm thía hơn về cái “hận”, cái “lụy” của những tài tử, giai nhân xưa, nay....

Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu.
Long Xuyên, 24 tháng 12 năm 2008.

Tài liệu tham khảo:
-Thơ chữ Hán Nguyễn Du. Nxb Văn học, 1978.
-GS. Thanh Lãng, ''Bảng lược đồ văn học Việt Nam quyển thượng'', Nxb Trình bày, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản.
-Từ điển văn học (bộ mới), Nxb thế giới, 2004.
-Nguyễn Huệ Chi, “Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán”, in trong ''Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam''. Nxb Tác phẩm mới, tr. 159-161.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Thảo Nguyên

Người đẹp Long Thành
Tên họ chẳng ghi lại rõ rành
Giỏi nhất đàn Nguyễn Cầm
Trong thành quen gọi Cô Cầm, nên danh
Học được trong cung triều xưa khúc Cung Phụng
Tưởng như trên trời dưới thế tuyệt vời âm thanh
Nhớ ta thuở trẻ từng thấy đến
Bên bờ Hồ Giám đêm tiệc yến
Áo hồng chìm dưới mặt hoa đào
Mới vừa hai mốt mùa xuân điểm
Đáng yêu má rượu đỏ hây hây
Thoắt chuyển năm âm tay lướt biến
Tiếng khoan như gió thoảng rừng thông
Trong như đôi hạc kêu đêm không
Mạnh như sét đánh tan bia đá
Buồn như Trang ốm Việt ngâm nồng
Người nghe say sưa không biết mệt
Đúng là Trung Hoà Đại Nội Cung Phụng khúc
Quan khách Tây Sơn thoả thích ngồi ngất ngây
Ham vui không chán năm canh suốt
Tả hữu tranh nhau gieo thưởng tiền
Bạc vàng như đất vung như rác
Hào hoa sang cả át vương hầu
Thiếu niên Ngũ Lăng thấm vào đâu!
Mình nàng ba mươi sáu cung xuân đúc
Long lanh vô giá Thăng Long bảo châu
Đêm hát đã qua hai chục năm
Tây Sơn thất bại, ta vào nam
Gang tấc Long Thành chẳng thấy lại
Nữa là Hồ Giám chiếu ca ngâm
Đêm nay Tuyên Phủ vì ta mở tiệc mua vui vời ca kỹ
Đầy chiếu đào nương tuổi xuân thì
Cuối chiếu có nàng tóc pha bạc
Võ vàng nhỏ bé mặt ủ ê
Sắc tàn mi úa không trang điểm
Ai biết đương thời tài hoa đệ nhất chốn Kinh kỳ?
Thánh thót khúc xưa ẩn lệ rơi
Lọt tai, lắng tiếng, dạ bồi hồi
Bỗng nhiên nhớ lại hai mươi năm về trước
Hồ Giám đêm hát từng thấy người
Thành quách tàn đi, người thay đổi
Bao nhiêu ruộng dâu thành biển khơi
Cơ nghiệp Tây Sơn tan tành hết
Đào nương còn đó một nàng thôi
Trăm năm thoáng chốc đáng bao nhỉ?
Đau lòng ướt áo lệ trào mi
Nam Hà trở lại ta trắng tóc
Lạ gì người đẹp sắc phai đi
Đôi mắt trừng trừng lòng tưởng nhớ
Thương ôi đối diện chẳng biết gì!

Nguồn: Đọc và dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Du, NXB Hội nhà văn, 2009
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Điền Phong

Thành Thăng Long có người con gái
Họ tên chi nào mấy ai hay,
Tài tình đàn Nguyệt riêng tay
Lừng danh, thiên hạ gọi ngay Chị Cầm
Trong cung, học mấy năm về trước,
"Cung phụng" kia là khúc Lê triều.
Bấy giờ Lê nghiệp tàn xiêu
Nhân gian, riêng chị ít nhiều còn ca.
Lần gặp mặt, khi ta tuổi trẻ
Bên Giám hồ, trộm ghé mắt trông.
Tiệc đêm, chị mặc áo hồng,
Xuân xanh hai mốt, tựa bông hoa đào.
Áo ánh mặt, rượu vào chếnh choáng,
Vẻ như ngây vẫn dáng cao sang.
Lần tay, đàn dạo mơ màng
Khoan khoan gió thổi nhẹ nhàng rừng thông.
Tựa hạc hót, điệu trong thủ thỉ,
Như sét vang, mạnh xé lìa tan,
Buồn như giường bệnh thở than,
Nghe tuy chẳng mỏi, khó an trong lòng.
Đều một điệu trong cung quen gẩy,
Tướng Tây Sơn, tiệc ấy như điên.
Suốt đêm còn chửa phỉ nguyền,
Tranh nhau ném vất bạc tiền thưởng khen.
Như cỏ rác chất trên mặt đất
Vẻ hào hoa, hơn đứt vương hầu,
Ngũ Lăng công tử thấm đâu?
Cung xuân băm sáu ra đầu ngón tay.
Chốn Trường An, tài này vô giá,
Hai chục năm ta há đã quên?
Tây Sơn thua trân li tan
Ta thì khăn gói vào Nam yên mình.
Cách gang tấc, kinh thành chẳng thấy,
Còn thấy sao đêm ấy yên ca?
Sứ quân lòng tốt vì ta
Mua vui, người lại bày ra tiệc tùng
Bọn đào hát đều trong tuổi trẻ,
Có một người ngồi rẽ chiếu xa,
Trên đầu, tóc đã điểm hoa
Hình gày, mặt võ, vẻ già rúm ro.
Chẳng son phấn, mặc cho tiều tuỵ
Ai hay rằng chính chị Cầm xưa,
Lệ theo khúc cũ thầm sa,
Ngồi nghe ta cũng thiết tha ngậm buồn
Bỗng sực nhớ ra nguồn chuyện cũ,
Bên Giám hồ ấy chỗ gặp nhau,
Than ôi, nghĩ đến mà đau,
Vật người thay đổi, ruộng dâu biến rồi
Tây Sơn nghiệp bại đồi hết sạch,
Nghề xướng ca, di tích một người.
Trăm năm chớp mắt đầy vơi,
Thương tâm nhớ chuyện lệ rơi chan hoà.
Đường Nam Bắc, vào ra, đầu bạc
Xót cho người nhan sắc tàn suy.
Mắt nhìn, dạ chẳng hồ nghi
Gặp nhau, giáp mặt, nhớ gì nữa đâu.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Có người đẹp đất Long Thành
Nào ai biết rõ tính danh là gì
Nguyễn cầm nức tiếng thạo nghề
Trong thành đều gọi rằng đây cô Cầm.
Khúc "Cung phụng" trong cung triều trước
Tiếng đàn hay tột bậc thế gian
Trẻ trai may một lần quen
Tiệc vui hồ Giám cái đêm hôm nào
Tuổi xuân độ đương hồi ba bảy
Má đào tươi lộng lẫy vẻ hoa
Má hồng thêm rượu chuốt pha
Năm cung réo rắt ngân nga tiếng đàn
Tiếng khoan như gió rừng thông vẳng
Tiếng trong như trời thẳm hạc kêu
Sét gầm bia đổ tường xiêu
Trang rên tiếng Việt bao nhiêu nỗi buồn.
Người mãi nghe quên luôn mệt mỏi
Biết khúc đàn đại nội Trung Hoà
Tây Sơn quan tướng say sưa
Cuộc vui suốt tối vẫn chưa thoả lòng.
Kẻ tả hữu tranh phần gieo thưởng
Tiền bạc coi rẻ rúng hơn bùn
Hào hoa át bậc thân vương
Thiếu niên miền đất Ngũ Lăng đáng gì!
Ba mươi sáu xuân kia đúc lại
Ngọc liên thành vật báu Trường An
Hai mươi năm tiệc đã tàn
Tây Sơn sụp đổ về nam một mình.
Chốn Long Thành xót lòng chẳng tới
Nào kể chi sáo thổi đàn ca
Cảm lòng quan phủ tiễn ta
Tiệc vui rặt các bông hoa tuyệt vời.
Phía cuối tiệc một người nho nhỏ
Mặt võ vàng tóc đã hoa râm
Mày khô trang điểm cũng không
Tài hoa đệ nhất Long Thành là đây!
Khúc đàn cũ thầm rơi nước mắt
Tai lắng nghe thêm xót lòng ai
Nhớ xưa hai chục năm rồi
Tiệc vui hồ Giám bồi hồi chưa quên
Thành quách đổi biến thiên dâu bể
Phận con người thôi kể làm chi
Tây Sơn cơ nghiệp còn gì
Xót làng ca vũ một người ngẩn ngơ.
Hận trăm năm thời giờ thấm thoát
Cảm chuyện xưa nước mắt thấm bâu
Từ nam trở lại bạc đầu
Trách sao nhan sắc úa màu tàn phai
Gặp nhau chẳng nhận ra ai
Trừng đôi mắt hận nhớ hoài buổi xưa

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Đông Phong

Thăng Long người đẹp nên thơ
Họ tên chẳng nhớ, phím tơ tuyệt trần
Khắp thành đều gọi nàng Cầm
Triều xưa "Cung Phụng" khúc đàn nổi danh
Từ trời cho tới nhân gian
Tiếng đàn đệ nhất một thân học thành
Thiếu thời ta đã gặp nàng
Cùng khai dạ yến ngay bên Giám Hồ
Tuổi vừa hai mốt niên hoa
Gió xuân ẩn ánh đào hoa mặt người
Rượu nồng má đỏ thơ ngây
Ngũ cung uyển chuyển theo tay nhận ngừng
Chậm như gió mát rừng tùng
Êm như chiếc hạc kêu sương trăng ngần
Mạnh như sét đánh bia tan
Thương như đất khách ốm than giọng nhà
Mãi nghe chẳng chán gần xa
Đều là âm điệu Trung Hoà cung xưa
Tây Sơn quan lính say sưa
Suốt đêm hoan lạc biết đâu sáng rồi
Tranh nhau ném thưởng tiền rơi
Vàng như bùn đất cuộc chơi xem thường
Hào hoa khí vượt hầu công
Ngũ Lăng bọn trẻ chơi dường được chăng
Vẻ xuân ba sáu cung vàng
Trường An đổi lấy một nàng kiêu sa.
Đêm nay chuyện cũ đã qua
Quay đầu một thoáng năm đà hai mươi
Tây Sơn binh bại thôi rồi
Trời Nam cất bước ta rời cố hương
Thăng Long gang tấc thấy chăng
Huống gì yến tiệc trong thành múa ca.
Mua vui Tuyên Phủ vì ta
Tiệc mời ca kỹ toàn là trẻ, xinh
Nửa đầu tóc bạc chợt nhìn
Vẻ khô, mặt xấu, dáng mình nhỏ nhoi
Mi tàn xơ xác khó coi
Người không trang sức ngồi nơi cuối bàn
Bình thường ai ngỡ trong thành
Đương thời đệ nhất  trứ danh gảy đàn
Điệu xưa âm mới lệ thầm
Trong tai nghe lặng, trong tâm bi sầu
Chợt đâu ý nổi việc xưa
Hai mươi năm trước chuyện đâu tràn về
Bên Hồ Văn đã gặp người
Thành xưa suy biến người nay đổi nhiều
Mấy lần biển hoá nương dâu
Tây Sơn cơ nghiệp sáng chiều tiêu vong
Đàn ca lưu lại một nàng
Trăm năm chớp mắt đau lòng thành không
Chuyện qua thấm áo lệ ròng
Từ Nam trở lại bạc không mái đầu
Lạ sao người đẹp năm nào
Sắc xưa suy biến ngỡ đâu mới từng
Tưởng sao hai mắt trừng trừng
Thương thay đối diện chưa từng quen nhau

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đào Phong Lưu

Không còn nhớ rõ tính, danh
Nhớ tài nàng gảy đàn tranh tuyệt vời.
Tên Cầm đặt bởi người đời
Khúc này Cung Phụng học thời trong cung.
Toàn điệu nổi tiếng lấy lừng,
Luc trẻ tôi nhớ đã từng gặp qua.
Bên Hồ Giám dạ tiệc hoa,
Khi nàng hai mốt, nõn nà tuổi xuân.
Mà đào da phấn trắng ngần,
Lúc say ửng đỏ bội phần ngây thơ.
Năm cung lướt ngón măng tơ
Khúc lưu thuỷ chảy lượn lờ rừng thông.
Trong như tiếng hạc tầng không,
Tựa bia Kiến Phúc vỡ tung rầm rầm.
Buồn như Trang Tịch vịnh ngâm,
Bằng giọng Ngô Việt lầm bầm nhẹ bay.
Nghe càng đắm, ngắm càng say,
Khúc Trung Hoà khiến ngất ngây não nề.
Tây Sơn quan, lính say mê
Thâu đêm chưa chán, dứt về khó thay.
Vung tiền tặng thưởng luôn tay,
Bạc coi như đất rắc đầy trước sau.
Hào hoa hơn hẳn vương hầu,
Vũ Lăng đám trẻ lâu nhâu sá gì.
Khúc xuân ba sáu cung si,
Trường An tuyệt đỉnh Kinh Kỳ tinh hoa.
Hai mươi năm đã lùi xa,
Từ Tây Sơn đổ, rời nhà vô Nam.
Long Thành cách trở dăm ngàn,
Nào mong trở lại xem nàng múa ca.
Tuyên Phủ bầy tiệc tiễn ta,
Trong đám ca kỹ toàn là trẻ trung.
Cuối chiểu có mụ hoa râm,
Dáng gầy phờ phạc, sắc thần héo khô.
Chẳng trang điểm, sạm làn da…
Ai ngờ người cũ tài hoa một thời.
Long Thành đệ nhất tuyệt vời,
Nghe cung đàn cũ, lệ tôi tuôn trào.
Tai nghe lòng xót như bào,
Bỗng đâu nhớ lại đêm nào năm xưa.
Hồ Văn lả lướt mây mưa
Thế thời thay đổi người xưa sắc tàn.
Biển xanh lấn át non ngàn,
Tây Sơn cơ nghiệp nát tan sạch rồi,
Làng ca sót lại một người,
Trăm năm thấm thoắt cuộc đời vó câu.
Cảm thương việc cũ tuôn châu,
Từ Nam trở lại mái đầu hoa râm,
Trách chi nhan sắc khôn cầm,
Mắt nhìn chẳng nhận lòng đau bẽ bàng.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Hoàng Tạo

Đất Long thành khách giai nhân nọ,
Không nhớ ra tên họ là gì.
Nguyễn Cầm nổi tiếng đương thì,
Tên Cầm mượn của đàn kia gọi người,
Khúc cung phụng những đời vua trước,
Tưởng quân thiên nhã nhạc khôn bì.
Nhớ hồi tuổi trẻ xưa kia,
Đêm bên hồ Giám một kỳ tiệc vui.
Xuân độ ấy đương hồi ba bảy,
Ánh hồng trang lộng lẫy mặt hoa.
Não người vẻ rượu ngà ngà,
Năm cung dìu dặt này qua phím đàn.
Tiếng khoan thoảng thông ngàn gió thổi,
Tiếng trong như hạc gọi xa xăm
Mạnh như Tiến Phúc sét gầm,
Buồn như tiếng Việt, Trang nằm đau rên.
Ai nấy nghe nhường quên mệt mỏi,
Rõ tiếng đàn đại nội Trung Hoà.
Tây sơn quan khách la đà,
Mải vui quên cả tiếng gà tan canh.
Tả lại hữu tranh giành gieo thưởng,
Tiền như bùn ước lược qua loa,
Vương hầu thua kẻ hào hao,
Ngũ Lăng chẳng trẻ ai mà kể chi.
Băm sáu cung xuân kia chung đúc,
Đất Trường An hạt ngọc liên thành.
Hai mươi năm, tiệc qua nhanh,
Tây Sơn sụp đổ thì mình về Nam.
Chốn Long thành tấc gang chẳng tới,
Còn nói chi những buổi đàn ca.
Nặng tình quan sứ tiễn ta,
Tiệc hoa kén những bông hoa nói cười.
Mé cuối tiệc một người nho nhỏ,
Tóc hoa râm mặt võ mình gầy.
Bơ phờ chẳng sửa đôi mày,
Tài hoa ai biết đất này không hai!
Thoáng mấy tiếng, thầm rơi giọt lệ,
Lọt tai mà như xé tấc son!
Giật mình hai chục năm tròn,
Tiệc bên hồ Giám người còn chưa quên.
Cuộc thương hải tang điền thấm thoắt,
Cõi nhân gian thành quách đổi đời,
Tây Sơn cơ nghiệp đâu rồi,
Mà làng ca vũ một người còn trơ!
Ngàn trăm năm thì giờ chớp mắt,
Lệ thương tâm ướt vạt áo là
Nam về đầu bạc ngẫm ta,
Trách gì hương phấn bông hoa chẳng tàn!
Trừng trừng đôi mắt mơ màng,
Quen mà hoá lạ nghĩ càng thêm thương.

Nguồn: Thơ chữ Hán Nguyễn Du, NXB Văn học, 1978
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời

Trang trong tổng số 2 trang (11 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối