Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
6 bài trả lời: 6 bản dịch
3 người thích
Từ khoá: ly biệt (47) chia ly (46) Tam biệt (3) tòng quân (44)
Đăng bởi Vanachi vào 17/06/2005 12:11, đã sửa 7 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 09/03/2006 07:21, số lượt xem: 3884

垂老別

四郊未寧靜,
垂老不得安。
子孫陣亡盡,
焉用身獨完!
投杖出門去,
同行為辛酸。
幸有牙齒存,
所悲骨髓幹。
男兒既介冑,
長揖別上官。
老妻臥路啼,
歲暮衣裳單。
孰知是死別,
且復傷其寒。
此去必不歸,
還聞勸加餐。
土門壁甚堅,
杏園度亦難。
勢異鄴城下,
縱死時猶寬。
人生有離合,
豈擇衰盛端!
憶昔少壯日,
遲回竟長嘆。
萬國盡征戍,
烽水被岡巒。
積屍草木腥,
流血川原丹。
何鄉為樂土,
安敢尚盤桓!
棄絕蓬室居,
塌然摧肺肝。

 

Thuỳ lão biệt

Tứ giao vị ninh tĩnh,
Thuỳ lão bất đắc an.
Tử tôn trận vong tận,
Yên dụng thân độc hoàn?
Đầu trượng xuất môn khứ?
Đồng hành vị tân toan.
Hạnh hữu nha xỉ tồn,
Sở bi cốt tuỷ can.
Nam nhi ký giới trụ,
Trường ấp biệt thượng quan.
Lão thê ngoạ lộ đề,
Tuế mộ y thường đan.
Thục tri thị tử biệt?
Thả phục thương kỳ hàn.
Thử khứ bất tất quy,
Hoàn văn khuyến gia xan.
Thổ Môn bích thậm kiên,
Hạnh viên độ diệc nan.
Thế dị Nghiệp Thành hạ,
Tùng tử thời do khoan.
Nhân sinh hữu ly hợp,
Khởi trạch suy thịnh đoan?
Ức tích thiếu tráng nhật,
Trì hồi cánh trường than.
Vạn quốc tận chinh thú,
Phong hoả bị cương loan.
Tích thi thảo mộc tinh,
Lưu huyết xuyên nguyên đan.
Hà hương vi lạc thổ,
An cảm thượng bàn hoàn.
Khí tuyệt bồng thất cư,
Tháp nhiên tồi phế can.

 

Dịch nghĩa

Bốn phương chưa ổn định
Thân về già cũng chẳng được yên
Con cháu chết trận hết
Một mình sống để làm gì?
Quẳng gậy ra cửa đi
Bạn đồng hành cũng lấy làm chua xót
May hàm răng vẫn còn
Thương nỗi tuỷ xương đã khô kiệt!
Thân trai đã mặc đồ giáp trụ
Vái dài từ biệt quan trên
Vợ già lăn ra đường gào
Hết năm rồi quần áo mỏng manh
Ai ngờ đến lúc tử biệt
Mà còn thương nhau rét!
Lần này đi chắc chắn không trở về
Vẫn còn nghe khuyên nhau cố ăn thêm
Nơi Thổ Môn thành luỹ rất vững
Thành Hạnh Viên cũng khó vượt qua
Hình thế không giống như ở dưới thành Nghiệp
Dù có chết cũng còn lâu
Đời người có tan có hợp
Kể gì tuổi trẻ hay già ?
Nhớ lại đương thì trai tráng
Băn khoăn rồi lại thở dài
Muôn nước đều có chiến tranh đồn thú
Lửa báo động bốc khắp núi gò
Thây chất làm tanh hôi cây cỏ
Máu chảy nhuộm đỏ sông ngòi đồng ruộng
Còn quê hương nào là đất yên vui
Mà còn dám chần chừ nữa?
Dứt bỏ nơi ở tranh pheo này
Rời rã như nát cả gan phổi!

 


(Năm 759)

Ba bài thơ Tân hôn biệt 新婚別, Thuỳ lão biệt 垂老別 và Vô gia biệt 無家別 được gọi là Tam biệt 三別.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (6 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Bốn cõi còn chưa lặng,
Gần già chẳng đặng an.
Con cháu chết trận hết,
Sống làm gì một thân.
Ném gậy bước ra cửa,
Chua xót cả hàng quân.
May còn răng cỏ tốt,
Buồn nỗi tuỷ xương cằn.
Đã là trai mũ giáp,
Chắp tay chào thượng quan.
Vợ già lăn đường khóc,
Năm cùng áo mỏng manh.
Biết đây là tử biệt,
Chịu lạnh nghĩ thương tình.
Chắc đi không về nữa,
Khuyên mãi: gắng cơm canh.
Thổ Môn thành vững chãi,
Hạnh Viên vượt cũng gay.
Thế khác buổi thành Nghiệp,
Có chết cũng còn dai...
Người sinh có ly hợp,
Già trẻ há chừa ai.
Nhớ tiếc ngày trai tráng,
Dùng dằng những than dài.
Cả nước đều giặc giã,
Khói lửa trùm núi sông.
Thây chất tanh cây cỏ,
Máu trôi đỏ lạch đồng.
Đâu là nơi sung sướng,
Há còn dám thung dung.
Bỏ hẳn gian lều cỏ,
Đứt cả ruột cả lòng.

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, Hoàng Trung Thông, NXB Văn học, 1962
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn phước Hậu

Bốn phương chưa ổn định
Thân già nào được yên
Con cháu chết trận tiền
Há một mình tham sống?
Quẳng gậy đi ra cổng
Bạn đồng hành xốn xang
May còn răng ở hàm
Thương nỗi xương khô kiệt.
Thân trai mặc giáp thiết
Vái từ biệt quan cao
Vợ già lăn đường gào
Hết năm tơi quần áo
Ai ngờ chào tử biệt
Còn thương nhau giá rét!
Nay đi chắc không về
Khuyên tỉ tê ăn cố.
Vững vàng thành luỹ Thổ
Hạnh viên khó vượt qua
Thế Nghiệp thành khác xa
Cũng còn lâu mới chết.
Đời người hết tan, hợp
Kể chi trẻ hay già?
Nhớ ra thời trai tráng
Thở dài và ngao ngán!
Muôn nước dốc chiến tranh
Lửa báo động biên thành
Thây chất tanh cây cỏ
Máu nhuộm đồng ruộng đỏ
Đất nước nào yên vui
Còn chần chừ đến đổi
Bỏ mái tranh cho rồi
Rã rời trong gan phổi!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nhượng Tống

Nước loạn lạc, thân già lận đận
Con cháu đều chết trận hết rồi
Một mình sống ở với ai ?
Ném phăng chiếc gậy, cửa ngoài ra đi!
Răng may chặt, xương thì đã lỏng
Người cùng đi ai cũng xót thương
Tài trai mũ đội, giáp mang
Vái dài, phải dám khinh thường quan trên!
Vợ già khóc lăn trên đường cái
Quần áo đơn dầu dãi chiều đông
Còn thương nhau nỗi lạnh lùng
Nào hay sống chết, thôi hòng gặp nhau
Đi thì được, về đâu được nữa
Còn khuyên nhau cơm bữa gượng xơi!
Ải bền, trấn vững bao nơi
Chẳng như thành Nghiệp: chết thời còn lâu!
Đời tan hợp cứ đâu già cũ
Tiếc trẻ trung trót đã lữa lần
Muôn phương chật ních những quân
Núi rừng lửa hiệu xa gần cháy vung
Thây chất lại thối xông cây cỏ
Máu chảy ra nhuộm đỏ sông đồng
Đâu yên vui nữa mà mong
Lều tranh bỏ dứt, đau lòng tim gan

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Anh Nguyên

Bốn bề đã được yên đâu,
Cái thân già cũng còn hầu chưa yên.
Cháu con chết trận ngoài biên,
Tấm thân cô độc sống yên làm gì.
Gậy quăng, ra cửa quyết đi,
Đồng hành chua sót cũng vì ta đây.
May thay, răng vẫn còn đầy,
Nhưng buồn, xương tủy lúc này đã khô.
Thân trai áo giáp khoác vô,
Vái quan từ biệt đến giờ ra đi.
Lăn đường, vợ khóc thảm thê,
Tuổi già vẫn chỉ xiêm y sơ sài.
Sinh ly tử biệt, thảm thay,
Lại thêm đau sót cho ai lạnh lùng.
Chuyến đi chẳng hẹn về cùng,
Còn khuyên ăn gắng chớ đừng biếng nha.
Thổ Môn tường khó vượt qua,
Hạnh Viên, bến ấy cách xa đôi bờ.
Nghiệp Thành khác với bây giờ,
Nếu ta có chết, thời cơ còn dài.
Đời người ly hợp, trừ ai,
Có đâu chọn lựa trẻ trai, người già.
Nhớ xưa trẻ khoẻ như ta,
Chia tay không dứt, xót xa than dài.
Mọi nơi lính thú, riêng ai,
Khắp trên sườn núi hỏa đài sáng trưng.
Thây tanh cây cỏ trong rừng,
Máu tuôn đỏ cả sông cùng đồng xanh.
Nơi nào vui vẻ an lành,
Mà còn nấn ná chưa đành ra đi.
Vứt căn nhà cỏ xá chi,
Tan gan nát phổi bước đi cũng đành...

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Bốn phương còn loạn lạc,
Sao yên được thân già.
Con cháu chết trận hết,
Sống làm gì mình ta!
Quẳng gậy ra khỏi cửa,
Bạn đường cùng xót xa!
May răng vẫn còn đủ,
Nhưng buồn tuỷ cạn khô.
Thân trai mặc giáp trụ,
Vái chào biệt quan nha.
Vợ nhào xuống đường khóc,
Năm hết: áo đơn sơ!
Ai ngờ vào cõi chết,
Còn e nhau lạnh mà!
Lần này không trở lại,
Còn dặn: "Cố ăn nha!"
Thổ môn thành luỹ vững,
Hạnh viên khó vượt qua.
Đâu như dưới thành Nghiệp,
Có chết cũng còn xa!
Đời người có tan hợp,
Cứ gì trẻ hay già.
Nhớ thuở còn niên thiếu,
Băn khoăn cứ thở ra.
Nơi nơi giặc giã nổi,
Báo động lửa khắp gò.
Xác chết tanh cây cỏ,
Đồng ruộng máu chan hoà.
Nơi nào là vui sống,
Cớ gì mà thiết tha.
Rời bỏ căn nhà lá,
Đau buồn nát lòng ta!

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Bốn phương ngoài kinh đô chưa tĩnh
Người sắp già sao thảnh thơi tâm
Cháu con chết trận cả đoàn
Còn mình thì sống để làm cái chi?
Quẳng gậy mở cửa đi đăng lính
Người cùng đi cám cảnh cho ta
May mà răng lợi tốt à
Chỉ buồn vì tuỷ xương đà cạn khô
Mang áo giáp, mũ như trai tráng
Vái dài quan để ráng lên đường
Vợ già lăn khóc thảm thương
Áo đơn sơ mỏng lúc dường cuối năm
Đã biết sắp nhào lăn cõi chết
Mà vẫn thương nhau rét nơi xa
Lần đi này chẳng về nhà
Mà bà vẫn cứ khuyên ta ăn nhiều
Ải Thổ Môn tường đều vững chắc
Luỹ Hạnh Viên khó lách được qua
Nghiệp Thành địa thế khác xa
Ta mà có chết cũng là còn lâu
Cuộc sống có xa nhau, sum họp
Lẽ thịnh suy há chộp được sao!
Nhớ xưa trai tráng hồng hào
Cứ lần lữa riết rồi hoài than thân
Nơi nào cũng dồn quân ra trận
Lửa báo nguy đốt tận đỉnh đồi
Xác người chồng chất tanh hôi
Máu loang chảy đỏ sông ngòi, ruộng nương
Có nơi nào dễ thường vui thú
Mà còn lưu luyến chửa chịu đi
Lều tranh rời bỏ một khi
Phổi gan tan nát, tâm thì buồn tênh.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời