Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
4 bài trả lời: 4 bản dịch
Đăng bởi Vanachi vào 26/10/2005 00:20, số lượt xem: 1910

草堂

昔我去草堂,
蠻夷塞成都。
今我歸草堂,
成都适無虞。
請陳初亂時,
返復乃須臾。
大將赴朝廷,
群小起異圖。
中宵斬白馬,
盟歃氣已粗。
西取邛南兵,
北斷劍閣隅。
布衣數十人,
亦擁專城居。
其勢不兩大,
始聞蕃漢殊。
西卒卻倒戈,
賊臣互相誅。
焉知肘腋禍,
自及梟獍徒。
義士皆痛憤,
紀綱亂相逾。
一國實三公,
萬人欲為魚。
唱和作威福,
孰肯辨無辜。
眼前列杻械,
背後吹笙竽。
談笑行殺戮,
濺血滿長衢。
到今用鉞地,
風雨聞號呼。
鬼妾與鬼馬,
色悲充爾娛。
國家法令在,
此又足驚吁。
賤子且奔走,
三年望東吳。
弧矢暗江海,
難為遊五湖。
不忍竟舍此,
復來薙榛蕪。
入門四松在,
步屧萬竹疏。
舊犬喜我歸,
低徊入衣裾。
鄰舍喜我歸,
酤酒攜胡蘆。
大官喜我來,
遣騎問所須。
城郭喜我來,
賓客隘村墟。
天下尚未寧,
健兒勝腐儒。
飄搖風塵際,
何地寘老夫。
于時見疣贅,
骨髓幸未枯。
飲噣愧殘生,
食薇不敢餘。

 

Thảo đường

Tích ngã khứ thảo đường,
Man di tắc Thành Đô.
Kim ngã quy thảo đường,
Thành Đô thích vô ngu.
Thỉnh trần sơ loạn thì,
Phản phúc nãi tu du.
Đại tướng phó triều đình,
Quần tiểu khởi dị đồ.
Trung tiêu trảm bạch mã,
Minh sáp khí dĩ thô.
Tây thủ Cùng Nam binh,
Bắc đoạn Kiếm Các ngu.
Bố y sổ thập nhân,
Diệc ủng chuyên thành cư.
Kỳ thế bất lưỡng đại,
Thuỷ văn Phiên Hán thù.
Tây tốt khước đảo qua,
Tặc thần hỗ tương tru.
Yên tri trửu dịch hoạ,
Tự cập kiêu cánh đồ.
Nghĩa sĩ giai thống phẫn,
Kỷ cương loạn tương du.
Nhất quốc thực tam công,
Vạn nhân dục vi ngư.
Xướng hoạ tác uy phúc,
Thục khẳng biện vô cô?
Nhãn tiền liệt nữu giới,
Bối hậu xuy sinh vu.
Đàm tiếu hành sát lục,
Tiết huyễn mãn trường cù.
Đáo kim dụng việt địa,
Phong vũ văn hào hô.
Quỷ thiếp dữ quỷ mã,
Sắc bi sung nhĩ ngu.
Quốc gia pháp lệnh tại,
Thử hựu túc kinh hu.
Tiện tự thả bôn tẩu,
Tam niên vọng Đông Ngô.
Hồ thỉ ám giang hải,
Nan vi du Ngũ Hồ.
Bất nhẫn cánh xả thử,
Phục lai trĩ trăn vu.
Nhập môn tứ tùng tại,
Bộ điệp vạn trúc sơ.
Cựu khuyển hỷ ngã quy,
Đê hồi nhập y cư.
Lân xá hỷ ngã quy,
Cô tửu huề hồ lô.
Đại quan hỷ ngã lai,
Khiển kỵ vấn sở tu.
Thành quách hỷ ngã lai,
Tân khách ải thôn khư.
Thiên hạ thượng vi ninh,
Kiện nhi thắng hủ nho.
Phiêu phiêu phong trần tế,
Hà địa trí lão phu?
Ư thì kiến vưu chuế,
Cốt tuỷ hạnh vi khô.
Ẩm trác quý tàn sinh,
Thực vi bất cảm dư.

 

Dịch nghĩa

Khi xưa, ta bỏ nhà cỏ ra đi
Lũ man rợ chật ních Thành Đô
Nay ta trở lại nhà cỏ
Vừa đúng lúc Thành Đô hết lo lắng
Xin giãi bày lúc mới loạn
Giáo giở từng phút giây
Quan đại tướng về triều đình
Bọn tiểu nhân liền nảy mưu dấy loạn
Nửa đêm giết ngựa trắng
Uống máu ăn thề, chí khí thô bạo
Phía tây, lấy quân ở Cùng Nam
Phía bắc, chặn đường góc Kiếm Các
Vài chục anh áo vải
Cũng chệm chễ làm chủ một thành
Nhưng hai thế lực không thể cùng lớn
Bắt đầu đã nghe có sự phân biệt giữa Hán và Phiên
Bọn lính bên tây liền trở giáo
Lũ bề tôi giặc tàn sát lẫn nhau
Ai ngờ tai hoạ nơi kẽ nách
Đã xảy tới cho bọn diều quạ sài lang
Bậc nghĩa sĩ đều căm giận sâu sắc
Phép tắc bị giày xéo bừa bãi
Một nước có đến ba chủ ông
Muôn dân hầu biến thành cá trốc thớt!
Chúng kẻ xướng người hoạ, tác phúc tác oai
Ai người chịu bênh vực cho dân lành vô tội!
Trước mặt bày la liệt những gông cùm
Sau lưng vẫn réo rắt đàn sáo
Cười nói đấy rồi giết người ngay đấy
Máu tươi phun đầy những quãng đường dài
Đến nay những chỗ chém người
Tiếng kêu gào còn văng vẳng trong mưa gió
Lấy vợ ma, cưỡi ngựa ma
Vẻ đau khổ của người làm cho người vui vẻ
Pháp luật nhà nước còn kia
Đến nước ấy thật đáng giật mình sợ thét!
Kẻ hèn này vẫn nay đây mai đó
Ba năm ròng trông ngóng sang Đông Ngô
Cung tên còn tối tăm cả sông biển
Khó lòng được rong chơi cảnh Năm Hồ
Không nỡ bỏ hẳn chốn này
Nên lại quay về phạt gai, giẫy cỏ
Bước vào cửa, bốn cây thông vẫn còn
Kéo đôi guốc dưới muôn cây trúc thưa thoáng
Con chó cũ mừng ta về
Quấn quít chui cả vào vạt áo
Hàng xóm mừng ta về
Rượu ngon xách từng bầu đến
Quan lớn mừng ta về
Sai lính cưỡi ngựa đến hỏi xem có cần gì
Dân quanh thành quách mừng ta về
Khách khứa chật ních cả gò bãi trong thôn
Thiên hạ còn chưa được yên
Tráng sĩ quý hơn anh đồ hủ
Trôi dạt hoài trong gió bụi
Thân già biết gửi vào đâu?
Đối với đời cảm thấy mình như cục thịt bướu
May xương tuỷ hãy còn chưa khô kiệt
Quãng đời tàn, thẹn ăn bám của đời
Đến cả ngọn rau vi cũng không dám dùng bừa bãi

 


(Năm 764)

Thảo đường là nhà của Đỗ Phủ ở Thành Đô, Tứ Xuyên.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nhượng Tống

Trước ta lìa nhà tranh,
Thành Đô giặc đầy tràn.
Nay ta về nhà tranh,
Thành Đô lại yên hàn.
Xin kể khi mới loạn,
Bỗng chốc sinh tai nàn.
Quan lớn về triều đình,
Tụi nhỏ bày mưu gian.
Nửa đêm chém ngựa trắng,
Thề thốt thảy nhơn nhơn.
Bắc chặn lối Kiếm Các,
Tây lấy quân Nam An.
Mấy chục thằng áo vải,
Cũng lập riêng giang sơn.
Thế chẳng ai chịu ai,
Mán, Kinh chia từng đoàn.
Quân lính giở giáo hoài,
Tướng giặc giết nhau tràn.
Biến sinh ngay cạnh nách,
Đáng kiếp phường gian ngoan.
Rường mối rối lung tung,
Nghĩa sĩ đều căm gan.
Một nước chốc ba vua,
Trăm họ khổ muôn vàn.
Ra ơn rồi ra oai,
Thương đâu kẻ hàm oan.
Sau lưng đàn sáo vang,
Trước mắt gông cùm dàn.
Vừa cười vừa giết người,
Máu tưới đầy đường quan.
Tới nay nơi hành hình,
Mưa gió nghe kêu van.
Vợ ma rồi ngựa ma,
Sung sướng quân tham tàn.
Phép nước nào còn đâu,
Càng nghĩ càng tân toan.
Thân hèn chạy sang Ngô,
Ba năm mong giặc tan.
Cung tên rợp Năm Hồ,
Khôn tả con thuyền nan.
Nay về dọn gai góc,
Cảnh cũ dạ bàn hoàn.
Trước hiên tre mọc cao,
Ngoài cửa thông xanh rờn!
Chó cũ mừng ta về,
Quẩn chân vẻ mừng rơn.
Hàng xóm mừng ta về,
Bầu rượu cùng chia san.
Quan lớn mừng ta về,
Sai hỏi cần gì hơn.
Trong thành mừng ta về,
Chật ngõ khách đầy dàn.
Hủ nho thua tráng sĩ,
Thiên hạ buổi lầm than!
Thân già chứa vào đâu ?
Gió bụi còn mê man.
Ở đời như thịt bướu,
Máu tủy may chưa khan.
Ăn rau ăn cả gốc,
Sống thừa đâu dám hờn.

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Anh Nguyên

Xưa ta rời bỏ mái tranh,
Thành Đô đầy ắp cả thành man di.
Mái tranh, nay lại trở về,
Thành Đô, đã đến, chẳng hề lo âu.
Loạn, xin kể lại từ đầu:
Trở lòng thoáng chốc, ai đâu nghi gì.
Về triều, đại tướng mới đi,
Bọn người cấp nhỏ tính gì rồi đây?!
Giữa đêm, chém ngựa trắng ngay!
Ăn thề uống máu, khí đầy bạo tham.
Tây, cùng với lính Cùng Nam,
Bắc, ngăn Kiếm Các chặn đàng tiến vô.
Chỉ vài chục kẻ áo thô,
Một thành, chiếm giữ, mưu đồ mai sau.
Cả hai thế chẳng lớn mau,
Mới phân Phiên, Hán, với nhau cho rồi.
Phía tây quay giáo cả thôi,
Quan quân chém giết tơi bời lẫn nhau.
Họa kề xát nách, hay đâu!
Quạ diều, chó má, dễ hầu thoát sao.
Những người nghĩa sĩ giận, đau,
Kỷ cương hỗn loạn, còn đâu ra gì.
Tam Công, một nước, ba vì,
Mọi người như cá nằm kề bên dao.
Làm oai, làm phúc, hùa nhau,
Những người vô tội, ai đâu kêu dùm.
Bày ra trước mắt gông cùm,
Sau lưng, ca hát um xùm ngày đêm.
Nói cười, giết chóc ngay bên,
Máu hồng lai láng khắp trên đường dài.
Đến nay, nơi chốn pháp đài,
Gió mưa, nghe tiếng bi ai kêu gào.
Chết rồi, vợ, ngựa, yên sao?
Buồn rầu, chúng có tha nào, càng vui!
Phép nhà nước vẫn còn thôi,
Nghĩ càng kinh hãi, ngậm ngùi thở than.
Kẻ hèn tạm chạy cho an,
Ba năm trông ngóng, nghĩ toàn Đông Ngô.
Cung tên u ám sông hồ,
Khó lòng lại được Ngũ Hồ dạo chơi.
Chốn này không nỡ bỏ rơi,
Lại về phá cỏ khắp nơi mọc đầy.
Cửa vào, thông vẫn bốn cây,
Vạn cây tre đã mọc đầy nhưng thưa.
Ta về, mừng rỡ, chó xưa,
Áo ta, cúi xuống, chui bừa vào trong.
Mừng ta, lối xóm đến đông,
Mang theo bầu rượu để cùng ta vui.
Quan mừng ta đã về rồi,
Sai ngay lính kỵ, hỏi thời cần chi?
Trong thành vui thấy ta về,
Khách xa cũng đến tràn trề xóm đây.
Nước non, giặc giã còn đầy,
Con trai khoẻ mạnh, hơn thầy đồ Nho.
Nổi trôi, gió bụi phó cho,
Nơi nào dùng đến lão Nho hủ này?
Ta như cục bướu, buồn thay!
Tủy xương chưa cạn là may lắm rồi.
Uống ăn, thẹn với cuộc đời,
Rau vi, chẳng dám bỏ rơi cọng nào!...

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Xưa ta rời nhà cỏ,
Lũ giặc chiếm Thành Đô.
Nay ta về nhà cỏ,
Thành Đô đã hết lo.
Xin thuật lúc mới loạn,
Tráo trở từng phút giờ!
Đại tướng mới trở gót,
Lũ bợm giở mưu cơ.
Nửa đêm giết ngựa trắng,
Nháo nhâng thề dưới cờ.
Cùng Nam, tây chặn lối,
Kiếm Các, bắc ngăn bờ.
Áo vải chừng chục đứa,
Chiếm thành chủ một khu.
Hai phe chẳng chung sống,
Chia rẽ, gây căm thù.
Phía tây lính trở giáo,
Giết nhau, lũ nặc nô!
Ai ngờ hoạ bên nách,
Sảy cùng lũ côn đồ.
Nghĩa sĩ đều căm giận,
Phép tắc kể chi mô!
Một nước đến ba chủ,
Trốc thớt, dân đen lo.
Kéo bè, cứ tác quái,
Ai bênh kẻ thế cô.
Gông cùm bày trước mắt,
Sau lưng vui hát hò.
Dọc đường máu tràn ngập,
Giết người cười hô hô!
Đến nay trên bãi giết,
Hồn rên dưới mây mù.
Giết người: chiếm vợ, ngựa,
Người khổ, mình hởi hồ!
Nước nhà còn luật pháp,
Thấy vậy đâu dám ho!
Kẻ này vẫn lang bạt,
Ba năm ngóng sang Ngô.
Sông bể đầy tên đạn,
Đâu đến được Ngũ Hồ.
Chốn cũ nào nỡ bỏ,
Quay về phát bụi bờ.
Trước cửa tùng vẫn bốn,
Lê guốc dưới trúc tơ.
Chó cũ mừng ta lại,
Nhẩy cẫng cắn quần co.
Láng giềng mừng ta lại,
Rượu ngon mang cả vò.
Quan lớn mừng ta lại,
Phái lính tới ứng thù.
Dân thành mừng ta lại,
Khách khứa đứng chật gò.
Đất nước còn loạn lạc,
Tráng sĩ hơn đồ nho.
Lăn lộn trong gió bụi,
Thân già gửi nơi mô?
Với đời thấy thừa thãi,
Tuỷ máu may chưa khô.
Đời tàn ngại sống bám,
Cọng rau chẳng bỏ dư!

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Thảo đường ngày trước ta rời bỏ
Vì bọn man khủng bố Thành Đô
Thảo đường nay lại trở vô
Vì Thành Đô chẳng còn lo ngại gì
Nay xin kể từ khi mới loạn
Mọi sự đều mau chóng đổi thay
Vua vời đại tướng về ngay
Bọn quan cấp dưới khởi xoay ý đồ
Nửa đêm chúng ăn thề uống máu
Khí thế dâng thô bạo dã man
Phía tây chúng lấy Cùng Nam
Cắt đường ải Kiếm bắc quân hết vào
Vài chục tên mặc toàn áo vải
Cũng ung dung cai quản một thành
Nhưng hai thế lực cạnh tranh
Phân chia Phiên Hán mong manh bắt đầu
Lính phía tây về triều qui thuận
Bọn phản quan tự đánh lẫn nhau
Đâu ngờ tai hoạ đến mau
Đáng đời cho lũ cú diều ác hung
Nghĩa sĩ đều đau lòng phẫn uất
Phép nước đà tan nát can qua
Nước nhà ba chủ thực ra
Dân như cá thớt quả là thảm thương
Chúng hùa nhau ra ơn tác hoạ
Lấy ai bênh vô tội dân lành
Bầy ra trước mắt xích xiềng
Sau lưng vui thú thổi sênh sáo đàn
Cười trong việc dân oan bị giết
Máu chảy loang lê lết đường dài
Đến nay nơi xảy giết người
Còn nghe được tiếng ma trơi kêu gào
Vợ và ngựa tha hồ chúng đoạt
Nỗi đau người chúng hát cười vui
Pháp qui nhà nước hẳn hoi
Chúng làm như thế, coi mòi đáng kinh
Kẻ hèn này di hành chỗ khác
Ba năm trông về góc Đông Ngô
Cung tên tàng ẩn bến bờ
Khó mà du ngoạn Ngũ Hồ được đâu
Không nỡ bỏ căn lầu nhà cũ
Nên trở về nhổ cỏ phát hoang
Vẫn còn thấy bốn cây thông
Luỹ tre thưa thớt đang mong người về
Chó cũ mừng chủ về huyên náo
Quanh quẩn bên vạt áo rúc hoài
Hàng xóm mừng, kéo lại chơi
Rượu ngon mang tới uống vui từng bầu
Quan trên mừng ta vừa về tới
Sai kỵ binh lại hỏi cần chi
Trong thành mừng ta trở về
Đầy gò khách đứng bờ đê trong làng
Dưới gầm trời chưa yên hàn được
Trai tráng cần hơn các đồ gàn
Giạt trôi gió bụi gian nan
Già này không biết được dàn nơi đâu
Xem ta như mọc dư cục bướu
May mà trong xương tuỷ chưa khô
Uống ăn ngại kiếp sống nhờ
Rau vi một cọng bỏ thừa dám đâu!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời