Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Thất ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
2 bài trả lời: 2 bản dịch
Từ khoá: Tô Hoán (2)
Đăng bởi Vanachi vào 16/03/2014 15:29, số lượt xem: 818

暮秋枉裴道州手札,率爾遣興,寄近呈蘇渙侍御

久客多枉友朋書,
素書一月凡一束。
虛名但蒙寒溫問,
泛愛不救溝壑辱。
齒落未是無心人,
舌存恥作窮途哭。
道州手札適復至,
紙長要自三過讀。
盈把那須滄海珠,
入懷本倚崑山玉。
撥棄潭州百斛酒,
蕪沒瀟岸千株菊。
使我晝立煩兒孫,
令我夜坐費燈燭。
憶子初尉永嘉去,
紅顏白面花映肉。
軍符侯印取豈遲,
紫燕騄耳行甚速。
聖朝尚飛戰鬥塵,
濟世宜引英俊人。
黎元愁痛會蘇息,
夷狄跋扈徒逡巡。
授鉞築壇聞意旨,
頹綱漏網期彌綸。
郭欽上書見大計,
劉毅答詔驚群臣。
他日更僕語不淺,
明公論兵氣益振。
傾壺簫管黑白髮,
舞劍霜雪吹青春。
宴筵曾語蘇季子,
後來傑出雲孫比。
茅齋定王城郭門,
藥物楚老漁商市。
市北肩輿每聯袂,
郭南抱甕亦隱几。
無數將軍西第成,
早作丞相東山起。
鳥雀苦肥秋粟菽,
蛟龍欲蟄寒沙水。
天下鼓角何時休,
陣前部曲終日死。
附書與裴因示蘇,
此生巳愧須人扶。
致君堯舜付公等,
早據要路思捐軀。

 

Mộ thu uổng Bùi Đạo Châu thủ trát, suất nhĩ khiển hứng, ký cận trình Tô Hoán thị ngự

Cửu khách đa uổng hữu bằng thư,
Tố thư nhất nguyệt phàm nhất thúc.
Hư danh đãn mông hàn ôn vấn,
Phiếm ái bất cứu câu hác nhục.
Xỉ lạc vị thị vô tâm nhân,
Thiệt tồn sỉ tác cùng đồ khốc.
Đạo Châu thủ trát thích phục chí,
Chỉ trường yêu tự tam quá độc.
Doanh bả na tu thương hải châu,
Nhập hoài bản ỷ Côn Sơn ngọc.
Bát khí Đàm Châu bách hộc tửu,
Vu một Tiêu ngạn thiên châu cúc.
Sử ngã trú lập phiền nhi tôn,
Linh ngã dạ toạ phí đăng chúc.
Ức tử sơ uý Vĩnh Gia khứ,
Hồng nhan bạch diện hoa ánh nhục.
Quân phù hầu ấn thủ khởi trì,
Tử yến lục nhĩ hành thậm tốc.
Thánh triều thượng phi chiến đấu trần,
Tế thế nghi dẫn anh tuấn nhân.
Lê nguyên sầu thống hội tô tức,
Di địch bạt hỗ đồ thuân tuần.
Thụ việt trúc đàn văn ý chỉ,
Đồi cương lậu võng kỳ my luân.
Quách Khâm thượng thư kiến đại kế,
Lưu Nghị đáp chiếu kinh quần thần.
Tha nhật cánh bộc ngữ bất thiển,
Minh công luận binh khí ích chấn.
Khuynh hồ tiêu quản hắc bạch phát,
Vũ kiếm sương tuyết xuy thanh xuân.
Yến diên tằng ngữ Tô Quý Tử,
Hậu lai kiệt xuất vân tôn tỷ.
Mao trai định vương thành quách môn,
Dược vật sở lão ngư thương thị.
Thị bắc khiên dư mỗi liên duệ,
Quách nam bão úng diệc ẩn kỷ.
Vô số tướng quân tây đệ thành,
Tảo tác thừa tướng đông sơn khởi.
Điểu tước khổ phì thu túc thục,
Giao long dục chập hàn sa thuỷ.
Thiên hạ cổ giốc hà thì hưu,
Trận tiền bộ khúc chung nhật tử.
Phụ thư dữ Bùi nhân thị Tô,
Thử sinh tỵ quý tu nhân phù.
Trí quân Nghiêu Thuấn phó công đẳng,
Tảo cứ yếu lộ tư quyên khu.

 

Dịch nghĩa

Làm thân khách đã lâu, rất hân hạnh được thư của bè bạn,
Một tháng thư đẹp gọn trong một bó.
Danh hão đã làm mờ câu hỏi thăm ấm lạnh,
Rộng yêu chẳng cứu nổi cái nhục nơi hang ngòi.
Răng rụng chưa phải là kẻ không có lòng,
Lưỡi còn nên ngượng khi khóc than về số phận đường cùng.
Thư của ông ở Đạo Châu vừa mới tới đây,
Giấy dài đọc tới ba lần chưa xong.
Đâu cần phải ôm nhiều ngọc trai biển biếc,
Giữ trong lòng cái gốc của đá quý núi Côn Lôn.
Bỏ hết trăm vò rượu nơi Đàm Châu,
Để hoang ngàn bụi cúc nơi bờ Tương.
Làm tôi ngày đứng phải nhờ con trẻ đỡ,
Khiến tôi đêm ngồi uổng đèn đuốc.
Nhớ bác lúc mới được cử giữ chức uý nơi Vĩnh Châu,
Mặt trắng má hồng da dẻ đẹp như hoa.
Phù hiệu quân đội, ấn của quan ông chiếm đâu có khó,
Các giống ngựa quý như tử yến, lộc nhĩ đi thật lẹ.
Thời đại có vua anh minh bụi chiến tranh còn bay tung,
Giúp đời nên đề bạt những người tài giỏi.
Dân đen đau khổ mong được bình yên,
Bọn giặc phá xóm còn lộng hành.
Trao gươm, đắp lễ đài nghe theo chỉ thị của vua,
Lưới rách, rào thủng chờ người vá lại.
Quách Khâm dâng sớ tâu về kế hoạch lớn,
Lưu Nghị đáp lại chiếu vua làm các quan kinh sợ.
Bữa khác nói chẳng cạn,
Ông bàn về việc quân sự lòng càng hăng.
Nghiêng chai, sáo đàn trong đám tóc đen trắng,
Múa gươm, sương tuyết giữa mùa xuân.
Tiệc vui thường nhắc đến Tô Tần,
Sinh sau mà tài cao sánh được với ông tổ chín đời trước đó.
Nhà tranh ngay cửa thành quách của Định vương,
Thùng thuốc cạnh ông già vùng Sở nơi chợ cá.
Phía bắc chợ thường ngồi kiệu sát tay áo,
Ngoại ô phía nam ôm vò co ro nơi ghế.
Biết bao tướng tá tới nơi nhà riêng phía tây,
Sớm giữ vai tể tướng từ núi đông mà dấy lên.
Chim tước béo mập nhờ lúa mùa thu,
Rồng thiêng muốn ẩn nới nước cát lạnh.
Trống, ốc trong trời đất chừng nào im,
Trước trận đoàn quân trong ngày chết.
Viết thư gửi ông họ Bùi nhưng cho ông họ Tô xem,
Đời này thật ngượng khi nhờ người nâng đỡ.
Giúp vua để thành như Nghiêu, Thuấn là nhờ công các ông,
Sớm nắm con đường quan trọng mà quên thân mình đi.

 


Bài này làm năm 769 khi Đỗ Phủ ở Trường Sa. Bùi Đạo Châu tức Bùi Cầu 裴虯.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nhượng Tống

Quê người bạn hữu phiền thăm hỏi
Một tháng thư suông vừa một gói
Đầy tớ rặt những chuyện hàn huyên
Thương miệng ích gì cơn rét đói
Lưỡi còn, đường cùng thẹn không khóc
Răng rụng, lòng son đâu có nguội
Đạo Châu lại mới gửi thư sang
Viết dài ba dạo đọc chưa rỗi
Hạt trai bể cả cứ gì nhiều
Ngọc quý non Côn giá khôn đổi
Bỏ chua đất Sở rượu trăm vò
Để héo bờ Tương cúc nghìn bụi
Ngày đứng con cháu phải đỡ mệt
Đêm ngồi đèn dầu còn tốn ói
Nhớ khi mới bổ sang Vĩnh Gia
Má hồng: da trắng màu hoa rọi
Trái ấn phong hầu lấy không khó
Sức ngựa trung phong đi thật giỏi
Tám cõi trông vời bụi chiến trung
Cứu đời phải cậy mặt anh hùng
Dân đen đâu khổ mong yên nghỉ
Quân giặc lăng lonaf chửa dẹp xong
Lưới rách, giềng chùng cần giúm vá
Gươm ban, đàn đắp, chửa phu công
Quách Khâm dâng sớ bầy mưu lớn
Lưu Nghị thưa lời dợn đám đông
Ngày khác chuyện bàn thú còn lắm
Việc binh bác tính khoái vô cùng
Chuốc chén mặt theo đàn sáo trẻ
Múa gươm xuân thấy tuyết sương lồng
Tiệc vui thường nhắc chàng Tô trẻ
Trẻ mặt nhưng mà già chí khí
Nhà tranh ngoài cửa thành vua xưa
Bồ thuốc trong khu chợ cá rẻ
Trước chợ xe tay lúc sánh vai
Bên thành hũ rượu thường kề ghế
Nhà riêng tướng võ lắm vô cùng
Biệt thự tường văn sang đáo để
Cát lạnh vùi cóng con thuồng luồng
Thóc mùa béo nứt đàn chim sẻ
Quan quân trước trận chết chi thường
Trống ốc gầm trời im chửa dễ
Thơ trả lời Bùi, Tô thử coi
Ra vào phải giắt tủi thân tôi
Mau cầm quyền lớn mong hai bác
Giúp nước, phò vua chớ tiếc đời

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Quê người, ông bạn có thư thăm,
Một tháng thư lành cả một bọc.
Loanh quanh nói toàn chuyện bâng quơ,
Bông lông chẳng rửa hang ngòi nhục.
Rụng răng chưa chắc lòng buông trôi,
Còn lưỡi, gặp đường cùng, ngượng khóc.
Đạo Châu vừa mới gửi thư qua,
Giấy dài chưa xong ba lần đọc.
Ngọc trai biển biếc đâu cần nhiều,
Đá quý Côn Lôn, lòng giữ gốc.
Vất ở Đàm Châu rượu trăm thùng,
Làm héo bờ Tương cúc ngàn gốc.
Khiến tôi ngày đứng phiền cháu con,
Bắt tôi đêm ngồi uổng đèn đuốc.
Nhớ anh lúc bổ quận Vĩnh Gia,
Hai má hoa hồng, da trắng bóc.
Sớm được huy chương với bằng khen,
Ngựa nòi vẫn biết đi thần tốc.
Đời vua bụi khói vẫn tung bay,
Cứu đời trông cậy bậc anh tài.
Dân đen khốn khổ mong yên nghỉ,
Quân cướp ngổ ngáo còn lẩn chui.
Trao quyền, ban chức nghe chỉ thị,
Kỉ cương đổ nát cần sửa sai.
Việc lớn, Quách Khâm, sớ dâng tấu,
Người nể, Lưu Nghị, chiếu đáp lời.
Bữa khác nói lại cũng chưa dứt,
Việc binh ông bàn càng hăng say.
Tuyết sương múa kiếm ca đời đẹp,
Già trẻ, sáo đàn cùng nghiêng chai.
Tiệc vui thường nhắc Tô Quý Tử,
Sinh sau mà tài đáng tay tổ.
Nhà tre ngay cửa thành Định vương,
Thùng thuốc trong chợ cá già Sở.
Bắc chợ, ngồi kiệu khi vui chung,
Nam ô, ôm vò nằm một xó.
Nhà tây tướng lãnh tới lui nhiều,
Núi đông thừa tướng sớm nắm giữ.
Cát lạnh muốn náu lũ thuồng luồng,
Lúa thu nuôi béo đàn chim sẻ.
Đất nước trống ốc chừng nào ngưng,
Trước trận trong ngày cả đoàn bỏ.
Thư gửi cho Bùi, để Tô coi,
Sống đời thấy ngượng vì nhờ vả.
Các ông giúp vua Nghiêu, Thuấn thành,
Cần nắm chính nghĩa, thân chẳng kể.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời