Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Thịnh Đường
4 bài trả lời: 4 bản dịch
Đăng bởi Vanachi vào 11/03/2014 21:38, số lượt xem: 1216

大歷三年春白帝城放船出瞿唐峽久居夔府將適江陵漂泊有詩凡四十韻

老向巴人裏,
今辭楚塞隅。
入舟翻不樂,
解纜獨長籲。
窄轉深啼狖,
虛隨亂浴鳧。
石苔淩幾杖,
空翠撲肌膚。
疊壁排霜劍,
奔泉濺水珠。
杳冥藤上下,
濃澹樹榮枯。
神女峰娟妙,
昭君宅有無。
曲留明怨惜,
夢盡失歡娛。
擺闔盤渦沸,
欹斜激浪輸。
風雷纏地脈,
冰雪耀天衢。
鹿角真走險,
狼頭如跋胡。
惡灘甯變色,
高臥負微軀。
書史全傾撓,
裝囊半壓濡。
生涯臨臬兀,
死地脫斯須。
不有平川決,
焉知眾壑趨。
乾坤霾漲海,
雨露洗春蕪。
鷗鳥牽絲颺,
驪龍濯錦紆。
落霞沉綠綺,
殘月壞金樞。
泥筍苞初荻,
沙茸出小蒲。
雁兒爭水馬,
燕子逐檣烏。
絕島容煙霧,
環洲納曉晡。
前聞辨陶牧,
轉眄拂宜都。
縣郭南畿好,
津亭北望孤。
勞心依憩息,
朗詠劃昭蘇。
意遣樂還笑,
衰迷賢與愚。
飄蕭將素發,
汩沒聽洪爐。
丘壑曾忘返,
文章敢自誣。
此生遭聖代,
誰分哭窮途。
臥疾淹為客,
蒙恩早廁儒。
廷爭酬造化,
樸直乞江湖。
灩澦險相迫,
滄浪深可逾。
浮名尋已已,
懶計卻區區。
喜近天皇寺,
先披古畫圖。
應經帝子渚,
同泣舜蒼梧。
朝士兼戎服,
君王按湛盧。
旄頭初俶擾,
鶉首麗泥塗。
甲卒身雖貴,
書生道固殊。
出塵皆野鶴,
曆塊匪轅駒。
伊呂終難降,
韓彭不易呼。
五雲高太甲,
六月曠摶扶。
回首黎元病,
爭權將帥誅。
山林托疲苶,
未必免崎嶇。

 

Đại Lịch tam niên xuân Bạch Đế thành phóng thuyền xuất Cù Đường giáp, cửu cư Quỳ Phủ tương thích Giang Lăng phiêu bạc, hữu thi phàm tứ thập vận

Lão hướng Ba nhân lý,
Kim từ Sở tái ngung.
Nhập chu phiên bất lạc,
Giải lãm độc trường dụ.
Trách chuyển thâm đề dứu,
Hư tuỳ loạn dục phù.
Thạch đài lăng kỷ trượng,
Không thuý phác cơ phu.
Điệp bích bài sương kiếm,
Bôn tuyền tiễn thuỷ châu.
Diểu minh đằng thượng hạ,
Nùng đạm thụ vinh khô.
Thần Nữ phong quyên diệu,
Chiêu Quân trạch hữu vô.
Khúc lưu minh oán tích,
Mộng tận thất hoan ngu.
Bài hạp bàn qua phí,
Y tà kích lãng thâu.
Phong lôi triền địa mạch,
Băng tuyết diệu thiên cù.
Lộc Giác chân tẩu hiểm,
Lang Đầu như bạt hồ.
Ác than nịnh biến sắc,
Cao ngoạ phụ vi khu.
Thư sử toàn khuynh nạo,
Trang nang bán áp nhu.
Sinh nhai lâm nghiệt ngột,
Tử địa thoát tư tu.
Bất hữu bình xuyên quyết,
Yên tri chúng hác xu.
Càn khôn mai trướng hải,
Vũ lộ tẩy xuân vu.
Âu điểu khiên ty dương,
Ly long trạc cẩm hu.
Lạc hà trầm lục ỷ,
Tàn nguyệt hoài kim xu.
Nê duẩn bao sơ địch,
Sa nhung xuất tiểu bồ.
Nhạn nhi tranh thuỷ mã,
Yến tử trục tường ô.
Tuyệt đảo dung yên vụ,
Hoàn châu nạp hiểu bô.
Tiền văn biện Đào Mục,
Chuyển miện phất Nghi Đô.
Huyện quách nam kỳ hảo,
Tân đình bắc vọng cô.
Lao tâm y khế tức,
Lãng vịnh hoạch chiêu tô.
Ý khiển lạc hoàn tiếu,
Suy mê hiền dữ ngu.
Phiêu tiêu tương tố phát,
Mịch một thính hồng lô.
Khâu hác tằng vong phản,
Văn chương cảm tự vu.
Thử sinh tao thánh đại,
Thuỳ phân khốc cùng đồ.
Ngoạ tật yêm vi khách,
Mông ân tảo trắc nho.
Đình tranh thù tạo hoá,
Phác trực khất giang hồ.
Diễm Dự hiểm tương bách,
Thương Lang thâm khả du.
Phù danh tầm dĩ dĩ,
Lãn kế khước khu khu.
Hỉ cận Thiên Hoàng tự,
Tiên phi cổ hoạ đồ.
Ưng kinh Đế Tử chử,
Đồng khấp Thuấn Thương Ngô.
Triều sĩ kiêm nhung phục,
Quân vương án trạm lô.
Mao đầu sơ thục nhiễu,
Thuần thủ lệ nê đồ.
Giáp tốt thân tuy quý,
Thư sinh đạo cố thù.
Xuất trần giai dã hạc,
Lịch khối phỉ viên câu.
Y Lã chung nan giáng,
Hàn Bành bất dị hô.
Ngũ vân cao Thái Giáp,
Lục nguyệt khoáng đoàn phù.
Hồi thủ lê nguyên bệnh,
Tranh quyền tương soái tru.
Sơn lâm thác bì niết,
Vị tất miễn khi khu.

 

Dịch nghĩa

Loạn lạc đã đến đất Ba, nay từ giã góc biên ải đất Sở này,
Xuống thuyền mà lòng không vui, tháo dây cột thuyền mà cứ than thở dài.
Khỉ hú trong rừng sâu âm chuyền ra nho nhỏ,
Le le rỉa lông lộn xộn nơi bờ vắng.
Rêu bám trên đá cao vài gậy,
Màu xanh như chạm vào thịt da.
Vách đá cao trùng điệp như những mũi kiếm ẩn trong sương,
Nước suối chảy mạnh bắn ra những hạt nước đẹp như châu báu.
Các loại cây dây leo quấn quít trên cao dưới thấp làm u ám cả bầu trời,
Cây toả hương nhiều ít tuỳ theo còn tươi hay đang khô héo.
Ngọn núi của thần nữ làm ra mây mưa trú ngụ đẹp huyền ảo,
Chẳng hay nhà của Chiêu Quân còn hay sụp đổ rồi.
Bài ca nỗi oán hận bị vua Hán gả cho rợ Hồ của bà làm ta thương cảm,
Kể lể về mộng đã tan, những ngày vui ở cung Hán cũng đã mất.
Nước xoáy tràn lên rút xuống tảng đá bằng,
Phải nương theo những đợt sóng xiên và mạnh mà đưa thuyền tiến.
Mưa gió vây bọc mạch đất,
Băng tuyết làm sáng đường trời.
Thác Lộc Giác đã thoát hiểm,
Chẳng lẽ ghềnh Lang Đầu không qua nổi sao!
Ngán vượt thác ghềnh đành là tái cả mặt,
Nhưng tấm thân nhỏ bé này đã gánh vác được hết.
Sách kinh sử đều nghiêng, cong,
Các túi đựng quần áo bị đè ép và ướt phân nửa.
Cuộc đời bỗng gặp hiểm nguy cao nhất,
Thoát chết trong tích tắc.
Đã quyết định vượt sông không bình yên vì phải qua hai kẽm,
Nên biết trước phải qua những nơi nước chảy xiết này.
Nay đã qua khỏi các kẽm trời đất mịt mù trên mặt sông nước dâng cao như biển,
Mưa và móc làm cỏ xuân tươi tốt.
Chim âu ngậm tơ bay đi làm tổ,
Rồng ly gội râu gấm.
Ráng chiều lặn chân trời xanh như lụa,
Trăng tàn làm hại cây khu vàng không ai còn thấy.
Măng mọc trong bùn khoẻ hơn lau sậy mới lú,
Cỏ bồ ra lá mới trên bãi sông.
Nhạn nhỏ con tranh giành với ngựa nước,
Chim én bay theo cột buồm màu đen.
Đảo đẹp có sương khói bao phủ,
Bãi sông cong vòng có nắng chiếu sớm chiều.
Mới nghe bàn về làng Đào Mục,
Chớp mắt đã tới Nghi Đô.
Phía nam huyện thấy tốt tươi,
Quán dịch tại bến đò phía bắc thấy vắng vẻ.
Biết bao ngày lo lắng nay mới được nghỉ ngơi,
Ngâm lớn bài vịnh kể rõ niềm vui chết đi sống lại.
Ý vui làm ta cười trở lại,
Nhưng đang suy yếu nên lời thơ không biết hay dở thế nào.
Nỗi buồn vì cuộc sống trôi nổi làm tóc thêm bạc trắng,
Còn nhiều lận đận mặc cho lò đời nung nấu.
Những núi non hang hốc mô tả đã từng đi qua,
Văn chương đâu dám nói dối.
Kiếp này sinh vào thời đại vua anh minh,
Mà thân phận ai đó phải than khóc vì cùng đường.
Bệnh tật kéo dài trên đất khách,
May mà sớm được kề bên các nhà Nho.
Tranh luận trước triều đình cũng chỉ vì muốn giúp vua,
Nhưng vì tính vốn thẳng thắn nên đành cam chịu lưu lạc sông hồ.
Ghềnh Diễm Dự tuy nguy hiểm nhưng cũng vượt qua được,
Sông Thương Lang sâu nhiều sóng cũng qua luôn.
Danh hão đã tìm nhiều lần rồi, lười tính toán nên thân phận nhỏ mọn.
Tới Giang Lăng rồi vui mừng vì thấy chùa Thiên Hoàng gần bên,
Việc đầu tiên là ghé thăm để được mở xem bức tranh rất xưa.
Sau đó cũng muốn qua bãi sông Đế Tử,
Để cùng linh hồn hai bà nhìn về Thương Ngô mà khóc nhớ vua Thuấn.
Lúc này trong triều các quan văn cũng mặc áo giáp,
Vua đeo kiếm Trạm lô bên mình.
Cờ mao của quân phản nghịch vừa phất lên,
Quân triều đình đã xuất hiện đẹp trên đường bùn lầy dẹp yên ngay.
Thân mang áo giáp rốt cuộc là quý,
Song giới thư sinh tất nhiên cũng có đạo lý khác biệt.
Khi lìa cõi trần thế đều thành hạc đồng quê,
Nhưng giới thanh lịch khác bọn ngựa xe.
Văn thần như Y Doãn, Lã Vọng không thu phục được,
Thì khó mà kêu gọi được võ tướng như Hàn Tín, Bành Việt.
Xe năm màu ngồi chỗ cao nhất,
Sáu tháng giúp vua đánh trận nơi sa trường.
Dân đen đi phu, đi lính trở về mang bệnh,
Tướng suý tranh quyền giết lẫn nhau.
Vào rừng núi tránh lao dịch mỏi mệt,
Chưa chắc đường núi không gập ghềnh.

 


Đại Lịch là niên hiệu của vua Đường Đức Tông từ năm 766 tới năm 779. Đại Lịch tam niên tức năm 768. Thành Bạch Đế do Công Tôn Thuật xây và xưng đế trong thời kỳ Vương Mãng cướp ngôi nhà Tây Hán, vị trí nay trong huyện Phụng Tiết, tỉnh Tứ Xuyên. Kẽm Cù Đường trên sông Trường Giang, trong địa phận huyện Phụng Tiết. Quỳ Phủ bao gồm huyện Phụng Tiết, nay trong tỉnh Tứ Xuyên. Huyện Giang Lăng nay trong tỉnh Hồ Bắc. Từ Quỳ Phủ đi Giang Lăng bằng đường sông Trường Giang, tác giả sẽ phải vượt qua hai cái kẽm nữa, cũng hiểm nguy như khi vượt kẽm Cù Đường được miêu tả trong bài này.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nhượng Tống

Tuổi già ở với dân Mường
Giã từ ải Sở tìm đường xa xuôi
Xuống thuyền, lòng thấy bồi hồi
Nhổ neo, cất tiếng thở dài bâng khuâng
Vượn ngâm, nghe vẳng bên rừng
Đàn le lặn lội trông chừng mặt sông
Thịt da rọi ánh xanh lồng
Ghế kê, gậy tựa, trập trùng bụi rêu
Suối xô, ngọc nước tung theo
Lô nhô vách đá cắm đều gươm sương
Dây rừng chằng chịt dọc ngang
Cây rừng thưa nhạt đám vàng, đám xanh
Gái thần núi đứng xinh xinh
Chiêu Quân xóm cũ thực tình còn không?
Khúc xưa để lại hận lòng
Mộng xưa tìm thú mơ mòng nơi nao?
Nào khi nước xoáy, sóng cao
Mái chèo nghiêng ngả, con sào bẻ bai
Sấm rung mặt đất rã rời
Băng soi, tuyết rọi, đường đời long lanh
Quản bao hiểm trở lênh đênh
Cheo leo Đầu Sói, gập ghềnh Sừng Nai
Thân hèn thà chịu nằm dài
Xuống ghềnh, lên thác rụng rời bao phen
Cơn nguy chưa dễ giữ gìn
Bịch bồ ướt đẫm, sách đèn lung tung
Sống trong giây phút hãi hùng
Chết ta vốn đã cầm lòng mười mươi
Các khe chảy gấp tuyệt vời
Nhìn dòng sông phẳng ta thời mới hay
Mưa xuân tắm gội cỏ cây
Cõi đời, một lớp sương dày mênh mông
Tơ bay, kìa cánh chim mòng
Gấm phơi, kìa lớp vảy rồng thưa, mau
Ráng chiều tìm tấm lụa màu
Trăng tàn, ai bẹp chiếc âu bằng vàng?
Đội bùn mầm sậy đâm ngang
Nhú qua lớp cát, lau đang nảy đều
Qua buồm đàn én lượt theo
Ngựa sông, bầy nhạn dập dìu bắt tranh
Khói, mây đảo nhỏ xây thành
Ác lên, thỏ lặn chỉ quanh hai bờ
Nghi Đô thoáng mắt bấy giờ
Đào Thanh mới rõ đã vừa đi qua
Huyện nam thành quách đầy hoa
Trông sang bến bắc cửa nhà lơ thơ
Tiếng ngâm vòng vọng xa đưa
Nhọc lòng mới được bây giờ nghỉ ngơi
Hả hê nói nói, cười cười
Tuổi già quen cả ở đời dở, hay
Bơ phờ tóc bạc ngang bay
Lấp vùi nung nấu mặc thây lò cừ
Suối rừng đành kiếp sống thừa
Văn chương dám tự dối lừa mình đâu
Thánh minh vua ngự trên đầu
Ai ngờ ta phải than câu cùng đường
Ốm đau lỡ bước tha hương
Đội ơn sớm dự vào làng văn nho
Can ngăn mong trả nghĩa to
Thẳng ngay cam phận giang hồ nổi trôi
Thương Lang, Diễm Dự ngược xuôi
Ngôi quan bỏ đứt, kế lười tính quanh
Chùa Thiên Hoàng đã bên mình
Giờ xem nét chữ bức tranh đời nào
Trông chừng bến Chúa sắp vào
Nhìn lăng vua Thuấn lệ trào chứa chan
Chống gươm vua chửa được nhàn
Mặc đồ nhung phục, trăm quan bận mình
Giặc ngoài quấy rối kinh thành
Bùn than thương nỗi sinh linh bấy chầy
Làm anh mặc giáp sang thay
Nhưng quen cầm bút mình đây khác loài
Hạc đồng bay mới tung trời
"Ngựa xe" đâu dễ có tài xông pha
Quà văn Y Lã ai là?
Hàn, Bành tướng võ dễ mà gọi đâu
Năm mây Thái Giáp treo cao
Cách bằng sáu tháng khát khao gió mùa
Dân đen nhìn lại khốn to
Tranh quyền lũ tướng chết cho đáng đời
Suối rừng tìm chốn nghỉ ngơi
Còn chưa chắc khỏi lạc loài long đong

Nguồn: Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn hoá thông tin, 1996
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Viên Thu, Nguyễn Minh @hoasontrang.us

Bởi ly loạn đến đất Ba này,
Nay giã từ biên ải Sở đây.
Đi xuống thuyền mà lòng ảo não,
Tháo dây neo luống thở than dài.
Rừng sâu vượn hú buồn hiu hắt,
Le vịt rỉa lông bãi vắng ngoài.
Rêu bám đá cao vài khoảng gậy,
Màu xanh như chạm thịt da người.
Trong sương vách đá như gươm ẩn,
Nước suối tung thành châu ngọc bay.
Cao thấp dây leo giăng kín mít,
Hương nồng nhạt bởi héo cùng tươi.
Vu sơn thần nữ bao huyền ảo,
Nhà xóm Chiêu Quân có đổi thay?
Bài hát nàng gây bao cảm xúc,
Ngày vui đã dứt, mộng tàn phai.
Sóng tràn, nước xoáy trên bờ đá,
Nương với ba đào, chuyển lắt lay.
Mưa gió vây choàng kinh mạch đất,
Tuyết băng soi rạng cả đường trời.
Thoát nguy Lộc Giác rằng là hẳn,
Chẳng lẽ Lang Đầu chịu bó tay.
Vượt thác ghềnh kinh tê tái mặt,
Nhưng thân già đã liệu vần xoay.
Sách kinh sử đã nghiêng cong cả,
Bao tải áo quần ướt nhẹp đây.
Bỗng gặp hiểm nguy ghê gớm vậy,
Mà trong chớp mắt thoát ra ngay.
Vượt sông cảm chẳng an toàn thế,
Biết trước phải qua nước xiết này.
Trời đất mịt mù, sông tựa biển,
Móc mưa tràn, cỏ tốt xuân tươi.
Chim âu miệng ngậm tơ xây tổ,
Rồng nước gội râu gấm đẹp ngời.
Chiều ráng thắm, chân trời biếc lụa,
Trăng tàn dầu dãi bóng khu phai.
Trong bùn, măng sậy lô nhô mọc,
Trên bãi xương bồ nõn lá phơi.
Nhạn bé tranh mồi cùng ngựa nước,
Quanh buồm đen én lượn lờ chơi.
Đảo tươi thắm mịt mờ sương khói,
Bãi lượn bờ sông nắng suốt ngày.
Vừa thoảng nghe Đào Mục mới đó,
Phút giây cũng tới Nghi Đô rồi.
Phía nam huyện thấy tươi vui thật,
Bến bắc quán hàng lặng lẽ phơi.
Lo lắng biết bao ngày mới nghỉ,
Ngâm tràn, sống chết đã qua may.
Hài lòng, ta thật tươi cười lại,
Sức kém, dở hay khó diễn bày.
Tóc bạc thêm vì buồn cuộc sống,
Bao nhiêu lận đận mặc lò đời.
Núi non hang hốc ta từng trải,
Không thể văn chương dám dối lời.
Thờ chúa anh minh, hoài một kiếp,
Ai người than khóc ngỏ cùng đây.
Bệnh dai dẳng đất người xa lạ,
May sớm có Nho bạn hữu này.
Đấu lý giữa triều mong giúp chúa,
Ngay tình, cam kiếp sông hồ trôi.
Vượt qua Diễm Dự đầy gian khó,
Quá độ Thương Lang sóng dữ gay.
Danh hão tìm nhiều lần cũng chán,
Vụng, lười nên phận nhỏ nhoi vui.
Cảm mừng khi thấy Thiên Hoàng tự,
Trước hết ghé nhìn tranh cổ ngay.
Cũng muốn qua cồn sông Đế Tử,
Nhìn Thương Ngô, khóc Thuấn bi ai.
Quan văn áo giáp đầy triều chính,
Vua giắt Trạm Lô kiếm rạng ngời.
Cờ phản nghịch vừa phe phẩy dậy,
Quân triều đình đã dẹp tan ngay.
Thân mang áo giáp là trân quý,
Đạo lý thư sinh cũng tuyệt vời.
Lìa cõi trần đều thành hạc nội,
Ngựa xe, thanh lịch khác nhau đời.
Lã, Y mà chẳng thu hàng được,
Vời tới Hàn, Bành cũng khó thay.
Xe ngũ sắc ngồi cao nhất hạng,
Giúp vua sáu tháng chiến chinh dài.
Dân đen tòng dịch về mang bệnh,
Tướng suý tranh quyền giết thẳng tay.
Trốn tránh núi rừng hoài cũng mệt,
Đường non liệu khỏi gập ghềnh nay?

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Doanh

Vùng dân Ba, già tới,
Nay, ải Sở lại rời.
Xuống thuyền lòng ủ rũ,
Nhổ neo miệng thở dài.
Bên rừng nghe vượn hú,
Mé sông thấy le bơi.
Ghế gậy dính rêu đá,
Da thịt ánh xanh ngời.
Nước ngọc suối tuôn dội,
Kiếm sương luỹ vách phơi.
Trên dưới dây chằng chịt,
Đậm nhạt lá khô tươi.
Ngọn Thần Nữ xinh đẹp,
Nhà Chiêu Quân đâu rồi?
Ghi lòng oán, còn khúc
Vỡ giấc mơ, hết vui.
Nước xoáy, chèo nghiêng ngửa,
Sóng cao, lái buông xuôi.
Vang gió sấm, mạch đất,
Rạng tuyết băng, đường trời.
Khấp khểnh thay Đầu Sói,
Gập ghềnh sao Sừng Nai.
Mặt tái vì sợ thác,
Thân yếu đành nằm dài.
Sách tung lăn khỏi bó.
Áo ướt nằm trong nài.
Đời sống tới hồi ngặt,
Cõi chết chỉ ly lai.
Nếu không thác chảy xiết,
Sao biết sông êm trôi.
Sương mưa tưới cây cỏ,
Bể hơi nhuốm đất trời.
Tơ dăng cánh chim sải,
Lăn tăn vẩy rồng bơi.
Ráng chiều trải tấm lụa,
Trăng tàn nát cái cơi.
Lách bùn sậy nẩy nhánh,
Ngoi cát lau đâm chồi.
Buồm quạ, én đua liệng,
Cá hau, nhạn tranh mồi.
Mây khói xây đảo đẹp,
Sớm chiều cách bãi doi.
Đào Mục vừa nghe nói,
Nghi Đô thấy đến nơi.
Nam huyện cảnh sầm uất,
Bắc đình nhà ít oi.
Xa nghe tiếng hò vẳng,
Mệt mỏi giờ nghỉ ngơi.
Mập mờ khéo với vụng,
Vui lòng, nói lại cười.
Phơ phất bay, tóc bạc,
Nung nấu mặc lò đời.
Chẳng tự thị thi phú,
Từng lận đận núi đồi.
Đời này đang lúc thịnh,
Ai ngờ khóc than trời.
Đất khách vẫn lâm bệnh,
Làng nho sớm được ngồi.
Can vua trả nợ nước,
Ngay thẳng nên nổi trôi.
Diễm Dự nơi hiểm tới,
Thương Lang chốn sâu xuôi.
Thôi dứt bỏ danh hão,
Đành quanh quẩn kế lười.
Chùa Thiên Hoàng ngay cạnh,
Bức vẽ cổ mở coi.
Bến Đế Tử từng đến,
Thuấn Thương Ngô lệ rơi.
Các quan giáp còn mặc,
Nhà vua kiếm vẫn coi.
Giặc giã mới gây loạn,
Dân đen lấm bùn hôi.
Binh sĩ thân tuy quý,
Thư sinh vốn khác nòi.
Hạc đồng quen tung cánh,
Xe ngựa chẳng có tài.
Y, Lữ khó thu phục,
Hàn, Bành đâu dễ mời.
Năm mây sắc cao thẳm,
Sáu tháng bay rộng dài.
Giết nhau, tướng tranh chức,
Bệnh tật, dân thóp thoi.
Núi rừng gửi thân yếu,
Khó khăn hẳn chưa thôi.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Đất Ba đã nhuốm màu loạn lạc
Nay giã từ ải góc Sở này
Xuống thuyền mà dạ chẳng vui
Tháo dây thuyền buộc mà dài thở than
Khỉ hú trong rừng âm nho nhỏ
Le rỉa lông lấp ló nơi bờ
Đá cao rêu bám vài đo
Màu xanh như chạm vào da thịt người
Vách đá cao sương bày như kiếm
Nước suối xô mạnh bắn ra châu
Dây leo quấn quít trên cao
Toả hương nhiều ít tuỳ vào khô tươi
Ngọn núi nữ thần coi huyền ảo
Nhà Chiêu Quân đã đổ hay còn
Bài ca tả nỗi hận oan
Ngày vui cung Hán, mộng tan đất Hồ
Nước xoáy tràn lên bờ rút xuống
Phải nương theo đợt sóng đưa thuyền
Gió mưa mạch đất phủ nguyên
Tuyết băng làm sáng trắng triền trời xa
Thác Lộc Giác ta đà thoát hiểm
Ghềnh Lang Đầu không nổi qua sao!
Thác ghềnh tái mặt vượt ào
Thân này nhỏ bé nằm cao thở phào
Sách kinh sử đều nhàu và nát
Túi áo quần ướt mất một phần.
Cuộc đời nguy nhất gian truân
Lần này thoát chết một phân tơ mòng
Đã biết trước vượt sông không dễ
Vì phải qua những kẽm xiết này
Trời mù mịt, nước dâng hoài
Móc mưa rửa cỏ xanh tươi hai bờ
Chim âu lượn ngậm tơ làm tổ
Giống rồng li đang cố gội râu
Ráng chiều đang lặn xanh màu
Trăng tàn làm hại xu vàng héo hon
Măng mọc bùn khoẻ hơn sậy lú
Cỏ bồ đà ra lá bên sông
Nhạn con, ngựa nước tranh giành
Lững lờ chim én quanh buồm quạ đen.
Đảo đẹp có khói lam bao phủ
Bãi sông cong nắng có hôm mai
Mới nghe Đào Mục lơ mơ
Thoáng mà đã tới bên bờ Nghi Đô
Phía nam huyện tốt tươi thấy rõ
Quán dịch nhiều, vắng vẻ bến đò
Biết bao ngày nặng âu lo
Hôm nay ngâm lớn bài hò tái sinh
Ý vui làm mình cười trở lại
Nhưng yếu suy không ngại dở hay
Buồn vì thêm bạc tóc mai
Còn nhiều lận đận lò đời nấu nung
Những núi non hốc hang từng trải
Văn chương đâu dám nói dối nào
Kiếp này vua giỏi sinh vào
Mà thân phận vẫn than sao đường cùng
Bệnh tật kéo dài vùng đất khách
May được kề bên các nhà Nho
Luận tranh vì muốn giúp vua
Nhưng vì tính thẳng làm cho phiêu bồng
Ghềnh Diễm Dự tuy hung vượt được
Sông Thương Lang sóng lướt cũng qua
Nhiều lần danh hão phôi pha
Vì lười tính toán nên ra yếu hèn
Chùa Thiên Hoàng gần bên thuyền buộc
Việc đầu tiên xem bức tranh xưa
Sau qua Đế tử con vua
Để cùng bái vọng Thương Ngô khóc trào
Nay quan văn thay bào mặc áo giáp
Kiếm Trạm lô vua giắt bên mình
Cờ mao của giặc vừa bành
Quân triều xuất hiện dẹp nhanh trên bùn
Thân mang giáp đành là quý giá
Song thư sinh tất có đạo riêng
Khi lìa trần thế quy tiên
Giới thanh lịch khác bọn liền ngựa xe
Nhóm Y, Lữ mà thu không được
Thì khó mà thuyết phục Hàn, Bành
Xe màu ngồi chỗ cao thanh
Giúp vua sáu tháng tung hoành dọc ngang
Dân đi phu về mang nhiều bệnh
Tướng suý tranh quyền bính giết lẫn nhau
Vào rừng trốn dịch được sao?
Núi rừng chưa chắc chỗ nào phẳng phiu.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời